LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

Đại Lý Thương Mại

Đại lý thương mại là một hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.

Trong những năm gần đây, hoạt động đại lý trở nên rất sôi động và phát triển ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng, thuốc lá, rượu bia, nước giải khát… Hiện tại, Việt Nam chưa có một số liệu điều tra chính thức về số lượng các đại lý nói chung cũng như số lượng các đại lý trong các lĩnh vực cụ thể nhưng có thể khẳng định rằng hoạt động đại lý thương mại đang phát triển ngày một mạnh hơn. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hoạt động mua bán hàng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng có thể được tiến hành theo nhiều phương thức khác nhau. Nhà sản xuất có thể trực tiếp giới thiệu và bán sản phẩm cho người tiêu dùng. Tuy nhiên hoạt động giới thiệu và bán sản phẩm lại tiêu tốn một nguồn nhân lực khá lớn. Chính vì vậy họ thường phát triển mạng lưới buôn bán theo cách lập một hệ thống các đại lý thương mại, các đại lý này sẽ trở thành cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.

Đại lý thương mại là một hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao. Hay nói cách khác đại lý chỉ là bên đứng ra bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thay cho doanh nghiệp. Các đại lý tuyệt đối không được quy định các điều kiện về mua bán, giá cả,… trái với các chính sách của doanh nghiệp trừ trường hợp có thỏa thuận trong hợp đồng đại lý. Điều này cũng có nghĩa bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hoá đã giao cho bên đại lý.

Một vấn đề rất quan trọng mà doanh nghiệp cũng như những người có nhu cầu trở thành đại lý thương mại cần quan tâm đó chính là hợp đồng đại lý và việc chấm dứt hợp đồng này. Cần lưu ý rằng hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản bởi lẽ “giấy trắng mực đen” rõ ràng, văn bản sẽ là một bằng chứng thuyết phục nhất mà các bên có thể viện dẫn để bảo vệ mình khi có tranh chấp xảy ra. Ngoài kiểu văn bản viết tay hoặc đánh máy thông thường thì còn một số hình thức nữa vẫn được xem là có giá trị pháp lý tương đương văn bản như: thư điện tử, fax.

Trong hợp đồng đại lý, các bên có thể thỏa thuận về thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Nếu bên nào tự ý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn này thì phải bồi thường cho bên còn lại. Giá trị của khoản bồi thường này sẽ được xác định dựa trên các thiệt hại mà việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn gây ra Tuy nhiên nếu, các bên không thỏa thuận thì hợp đồng đại lý sẽ chỉ chấm dứt sau một thời hạn không sớm hơn 60 ngày kể từ ngày 1 trong 2 bên thông báo cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng. Cần lưu ý là thông báo này cũng phải được thực hiện bằng văn bản. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt theo yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý. Còn nếu hợp đồng đại lý được chấm dứt theo yêu cầu của bên giao đại lý thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho mình một khoản tiền. Giá trị của khoản bồi thường là 1 tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý. Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý. Ví dụ: Đại lý B đã làm đại lý cho công ty A trong thời hạn 3 năm với mức thù lao như sau: năm 2010: 20 triệu/tháng; năm 2011: 35 triệu/tháng; năm 2012: 15 triệu/tháng. Trong hợp đồng đại lý giữa công ty A và doanh nghiệp B không nêu rõ về thời hạn chấm dứt công việc đại lý của đại lý B. Nay công ty A đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng với đại lý B. Thì công ty A phải bồi thường cho đại lý B một khoản bằng:

01 tháng thù lao trung bình = (20+35+15)/3 = 23,3 triệu đồng.

Rõ ràng thù lao trong hoạt động đại lý là một mấu chốt rất quan trọng trong hợp đồng đại lý bởi nó không chỉ là điều kiện giúp bên đại lý thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình mà còn là căn cứ để các bên xác định mức bồi thường khi hợp đồng chấm dứt. Luật thương mại 2005 cũng đã nêu rõ: nếu 2 bên không có thỏa thuận khác, thù thao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá. Như vậy, tùy thuộc vào từng phương thức giao, nhận nghĩa vụ mua, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ mà bên đại lý sẽ được hưởng thù lao dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá. Trường hợp bên giao đại lý ấn định giá mua, giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì bên đại lý được hưởng hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu mà đại lý mang về cho doanh nghiệp. Còn nếu bên giao đại lý không ấn định giá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho bên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh lệch giá. Mức chênh lệch giá được xác định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý. Thông thường việc thanh toán tiền hàng, tiền cung ứng dịch vụ và thù lao đại lý được thực hiện theo từng đợt sau khi bên đại lý hoàn thành việc mua, bán một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng một khối lượng dịch vụ nhất định. Lấy một ví dụ để làm rõ quy định này của luật thương mại 2005: Công ty A chuyên sản xuất sữa bột. Công ty A và ông B có ký với nhau một hợp đồng đại lý theo đó ông B sẽ trở thành đại lý phân phối, bán hàng cho công ty A. Trong quý I năm 2012, công ty A giao cho đại lý của ông B lô hàng 800 hộp sữa. Có 2 trường hợp xảy ra:

l Công ty A định giá sẵn cho đại lý B là đại lý phải bán ra thị trường với mức giá 200.000đ/hộp và mức hoa hồng là 5% trên tổng doanh thu à Thù lao đại lý B được hưởng: 200.000 x 800 x 5% = 8.000.000đ.

l Công ty A chỉ định giá bán cho đại lý B là 200.000đ/hộp mà không quy định giá bán ra thị trường. Đại lý bán ra với mức giá 205.000đ/hộp à Thù lao đại lý B được hưởng là: (205.000 – 200.000) x 800.000 = 4.000.000đ.

Như đã nói ở trên, bên đại lý chỉ thay mặt bên giao đại lý thực hiện hoạt động mua, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ và nhận thù lao. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, nếu bên đại lý thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào ví dụ như: thay hàng thật của công ty bằng hàng giả, háng nhái để kiếm lời, thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh với các đại lý khác,… thì bên đại lý sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi do mình gây ra. Còn nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của bên giao đại lý thì bên này sẽ liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên đại lý ví dụ: bên giao đại lý cung cấp hàng kém chất lượng, hết hạn sử dụng cho bên đại lý bán,…

Khi một doanh nghiệp có ý định mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm của mình dưới hình thức đại lý thương mại hoặc cá nhân, tổ chức nào có ý định trở thành đại lý của một doanh nghiệp để nhận thù lao thì cần tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật về đại lý thương mại để có thể bảo vệ quyền lợi của mình ở mức tối ưu nhất.

Công Ty Luật PLF

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Liên hệ cùng PLF để được tư vấn