LĨNH VỰC LAO ĐỘNG

ESOP - kế hoạch sở hữu cổ phiếu của người lao động

ESOP - kế hoạch sở hữu cổ phiếu của người lao động
ESOP - kế hoạch sở hữu cổ phiếu của người lao động

ESOP (Employee Stock Ownership Plan) hay còn gọi là kế hoạch sở hữu cổ phiếu của người lao động mà hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn áp dụng để khích lệ cũng như giữ chân người lao động có năng lực. Tuy nhiên thực tế không phải trường hợp nào doanh nghiệp cũng đủ điều kiện để áp dụng chính sách ESOP mà phải tùy thuộc vào cấu trúc, mức vốn và nhiều điều kiện khác của doanh nghiệp. Bài viết này sẽ mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan về các quy định và điều kiện được pháp luật áp dụng đối với việc phát hành cổ phiếu ESOP của doanh nghiệp.  

1. ESOP là gì

ESOP (Employee Stock Ownership Plan – Kế hoạch sở hữu cổ phiếu của người lao động) là việc phát hành cổ phiếu được công ty đại chúng phát hành theo chương trình lựa chọn cho người lao động (“NLĐ”). Do đó, ESOP chỉ được bán cho NLĐ trong công ty, cụ thể là những NLĐ làm việc lâu năm hoặc có đóng góp tích cực cho sự phát triển của công ty.  

Đồng thời, ESOP sẽ được Công ty phát hành để thưởng cho NLĐ hoặc bán cho NLĐ với giá ưu đãi, nhưng sẽ kèm theo những điều kiện hạn chế về thời gian chuyển nhượng, tiêu chuẩn áp dụng cho người lao động được quyết định bởi Đại Hội Đồng Cổ Đông hay Hội Đồng Quản Trị.

2. Lợi ích và rủi ro của ESOP

2.1 Những lợi ích về việc phát hành ESOP:

Đối với người lao động:

  • Việc phát hành ESOP sẽ tạo tạo động lực và khích lệ tinh thần làm việc cho những người lao động. Thông qua việc sở hữu cổ phiếu ESOP với mức giá ưu đãi, giá cổ phiếu trên thị trường tăng cao cùng với sự phát triển của doanh nghiệp, người lao động của công ty sẽ có thêm động lực để cống hiến và gắn bó lâu dài với Công ty.
  • ESOP giúp gia tăng trách nhiệm của người lao động với doanh nghiệp khi họ trở thành cổ đông và nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp:

  • ESOP giúp doanh nghiệp quản lý và hoạt động bền vững dựa trên những nhân sự chủ chốt và có năng lực.
  • Ngoài ra, việc phát hành ESOP cũng giúp cho doanh nghiệp giảm áp lực về nguồn vốn, dòng tiền chi thưởng cho nhân viên và thuế mà vẫn giữ được nguồn vốn để thực hiện hoạt động tái đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh. Cụ thể, doanh nghiệp chỉ cần sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại, thặng dư cổ phần hoặc quỹ đầu tư phát triển để phát hành cổ phiếu thưởng mà không ảnh hưởng đến khoản chi tiền mặt.
  • Đồng thời, số lượng cổ phần của công ty cũng gia tăng và góp phần tăng thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp.

2.2 Rủi ro của ESOP

Cũng xin lưu ý rằng, việc phát hành cổ phiếu ESOP của công ty đại chúng cũng tiềm ẩn một số rủi ro nhất định, cụ thể như sau:

– ESOP gây ra tình trạng loãng cổ phiếu, có thể ảnh hưởng đến những quyết định quan trọng và mang tính chiến lược của cổ đông đối với sự phát triển của doanh nghiệp.

– Việc phát hành thêm cổ phiếu ESOP sẽ làm cho tỉ lệ sở hữu công ty của các cổ đông hiện tại bị giảm xuống, cùng với đó là thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) của cổ đông bị sụt giảm.

– Sau khi hết điều kiện về thời gian không được chuyển nhượng cổ phiếu đã hết, người lao động có thể thực hiện chuyển nhượng cổ phiếu. Do đó, một lượng lớn cổ phiếu có thể bị đẩy ra thị trường và ảnh hưởng tiêu cực đến diễn biến giá cổ phiếu của doanh nghiệp.

3. ESOP chỉ áp dụng cho công ty cổ phần đại chúng

Theo quy định tại Nghị định số 155/2020/NĐ-CP, việc phát hành ESOP chỉ áp dụng cho công ty cổ phần là công ty đại chúng và không có quy định hướng dẫn thực hiện cho hình thức công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng.  Do đó, trong trường hợp công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng thực hiện phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động mà không phải là ESOP, pháp luật Việt Nam không có quy cấm thực hiện. Cụ thể, pháp luật doanh nghiệp 2020 quy định công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng có thể phát hành cổ phiếu thông qua hình thức chào bán cổ phiếu riêng lẻ và không có quy định cấm nhân viên mua cổ phần của doanh nghiệp theo hình thức này. Vì vậy, nếu công ty muốn phát hành cổ phiếu cho nhân viên thì công ty có thể áp dụng hình thức chào bán cổ phần riêng lẻ kèm theo những chính sách và cam kết gắn bó và phát triển lâu dài cùng doanh nghiệp để nhân viên trở thành cổ đông của công ty với vai trò là người mua cổ phần theo hình thức này.

4. Điều kiện phát hành ESOP

Để phát hành cổ phiếu ESOP, Công ty cổ phần đại chúng cần đáp ứng những điều kiện theo quy định về phương án phát hành cổ phiếu, số lượng cổ phiếu được phát hành, nguồn vốn chủ sở hữu, cụ thể như sau:

– Về phương án phát hành cổ phiếu ESOP phải được Đại Hội Đồng Cổ Đông thông qua.

– Về tổng số cổ phiếu phát hành theo chương trình trong mỗi 12 tháng không được vượt quá 5% số cổ phiếu đang lưu hành của Công ty.

– Về danh sách và tiêu chuẩn của người lao động được tham gia; nguyên tắc xác định số cổ phiếu được phân phối cho người lao động và thời gian thực hiện tương ứng, Đại Hội Đồng Cổ Đông và Hội Đồng Quản Trị (trong trường hợp được ủy quyền) phải quy định cụ thể các nội dung này.

– Về nguồn vốn chủ sở hữu:

  • Nếu loại cổ phiếu được phát hành là cổ phiếu thưởng, doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện về nguồn vốn chủ chủ sở hữu để tăng vốn cổ phần gồm có thặng dư vốn cổ phần; quỹ đầu tư phát triển; lợi nhuận sau thuế chưa phân phối; quỹ khác (nếu có) được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật phải căn cứ trên nguồn vốn được xác định trên báo cáo tài chính được kiểm toán gần nhất;
  • Nếu công ty đại chúng là công ty mẹ phát hành cổ phiếu để thưởng cho người lao động, cần lưu ý:
    • Nếu nguồn vốn chủ sở hữu là từ thặng dư vốn cổ phần, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khác cần được xác định trên báo cáo tài chính của công ty mẹ.
    • Nếu nguốn vốn được xác định là nguồn lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, lợi nhuận quyết định sử dụng để thưởng cho người lao động không được vượt quá mức lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán;
    • Nếu lợi nhuận quyết định sử dụng để thưởng cho người lao động thấp hơn lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên báo cáo tài chính hợp nhất và cao hơn mức lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ, công ty chỉ được thực hiện việc phân phối sau khi đã điều chuyển lợi nhuận từ các công ty con về công ty mẹ.
  • Việc phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động, tổng giá trị các nguồn quy định tại Khoản 4 Điều này phải đảm bảo không thấp hơn tổng giá trị vốn cổ phần tăng thêm theo phương án được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

– Về thời gian hạn chế chuyển nhượng: Cổ phiếu phát hành bị hạn chế chuyển nhượng tối thiểu 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành.

– Về tỷ lệ sở hữu nước ngoài: việc phát hành cổ phiếu đáp ứng quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài theo quy định của pháp luật trong trường hợp phát hành cho người lao động là nhà đầu tư nước ngoài.

– Về việc mở tài khoản phong tỏa: tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa nhận tiền mua cổ phiếu của người lao động trừ trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động.

– Về nghĩa vụ báo cáo, tổ chức phát hành cổ phiếu ESOP cần phải gửi báo cáo về ban Chứng khoán Nhà nước và công bố thông tin trên trang thông tin điện tử của tổ chức phát hành, Sở giao dịch chứng khoán về kết quả đợt phát hành trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đợt phát hành.

Như vậy, có thể thấy rằng ESOP được xem một công cụ hiệu quả giúp xây dựng nguồn nhân lực bền vững từ bên của doanh nghiệp đi kèm với những rủi ro nhất định. Do đó, khi áp dụng trên thực tế, doanh nghiệp cần lưu ý đến các điều kiện theo quy định như nguồn vốn, phương án phát hành, số lượng cổ phiếu phát hành, các điều kiện và tiêu chuẩn khác theo quy định. Ngoài ra, doanh nghiệp chỉ được phát hành ESOP trong trường hợp đáp ứng các điều kiện về công ty cổ phần đại chúng theo của pháp luật chứng khoán.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.