LĨNH VỰC THUẾ

Giảm Trừ Gia Cảnh Trong Thuế Thu Nhập Cá Nhân

jude-beck-a-nWU0o73r4-unsplash

Tinh thần của Luật thuế thu nhập cá nhân là nhắm vào những người có thu nhập cao đến một ngưỡng nhất định so với mặt bằng chung của xã hội. Để góp phần giảm bớt gánh nặng về thuế và đảm bảo công bằng xã hội, nhà nước đã quy định giảm trừ gia cảnh trong quá trình thu nộp thuế thu nhập cá nhân.

Tinh thần của Luật thuế thu nhập cá nhân là nhắm vào những người có thu nhập cao đến một ngưỡng nhất định so với mặt bằng chung của xã hội. Để góp phần giảm bớt gánh nặng về thuế và đảm bảo công bằng xã hội, nhà nước đã quy định giảm trừ gia cảnh trong quá trình thu nộp thuế thu nhập cá nhân. Tức là, người nộp thuế sẽ được trừ một khoản tiền vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế trên thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công.

Giảm trừ gia cảnh chỉ được đặt ra đối với các cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, cá nhân cư trú là những người hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau: có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế.

Pháp luật chỉ đặt ra việc giảm trừ gia cảnh đối với những khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công và kinh doanh của cá nhân cư trú, nghĩa là những khoản thu nhập mang tính thường xuyên và ổn định. Các khoản thu nhập khác như tiền trúng xổ số, nhận thừa kế, được tặng cho, tiền thu được từ hoạt động đầu tư, chứng khoán,… sẽ không được tính để giảm trừ.

Giảm trừ gia cảnh được chia làm hai mức:

  • Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm);
  • Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.

Về nguyên tắc, pháp luật không hạn chế số lượng người phụ thuộc đối với mỗi đối tượng chịu thuế, nhưng mỗi người phụ thuộc chỉ được giảm trừ một lần 1,6 triệu vào một đối tượng nộp thuế. Trường hợp các đối tượng nộp thuế có chung người phụ thuộc thì phải tự thoả thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một đối tượng nộp thuế. Ví dụ: hai vợ chồng có một con chung chưa thành niên thì người con đó chỉ được tính giảm trừ vào thu nhập của người vợ hoặc người chồng mà không thể cùng kê khai giảm trừ cho cả hai vợ chồng. Đồng thời, việc đối tượng chịu thuế kê khai họ có bao nhiêu người phụ thuộc hoàn toàn dựa trên cơ chế tự kê – tự khai, pháp luật không đặt ra cơ chế riêng quản lý, kiểm soát việc kê khai nộp thuế của đối tượng chịu thuế. Mặc dù không kiểm soát, quản lý nhưng pháp luật cũng quy định đối tượng chịu thuế phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với những thông tin do mình kê khai. Tức là họ tự kê – tự khai nhưng một khi phát hiện kê khai gian dối, sai phạm thì sẽ có biện pháp xử lý thỏa đáng.

Những người phụ thuộc được đề cập ở trên được xác định theo quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và những người mà cá nhân đó nhận nuôi bao gồm:

  • Con dưới 18 tuổi;
  • Con trên 18 tuổi bị tàn tật, không có khả năng lao động;
  • Con đang theo học tại các trường: đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá 500.000đ/tháng;
  • Người ngoài độ tuổi lao động hoặc người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá 500.000đ/tháng, bao gồm: vợ hoặc chồng của người nộp thuế; cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế; cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.

Nội dung quy định trên có thể dẫn đến cách hiểu là có 2 trường hợp được xem là người phụ thuộc, gồm: một là người ngoài độ tuổi lao động; hai là người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá 500.000đ/tháng. Trên thực tế, trường hợp bố mẹ ngoài độ tuổi lao động, có thu nhập hoặc có lương hưu không vượt quá 500.000đ/tháng vẫn không được cơ quan thuế tại một số địa phương công nhận là người phụ thuộc và không xem xét để tính giảm trừ gia cảnh. Chính bởi quy định trên chưa rõ ràng và chặt chẽ nên tùy vào cách hiểu của cơ quan thuế ở từng địa phương mà trường hợp này có được giảm trừ hay không.

Ví dụ sau đây sẽ làm rõ hơn về cách giảm trừ cũng như tính thuế thu nhập cá nhân:

Ông A là kĩ sư của một công ty cơ khí với mức lương hàng tháng là 15 triệu. A có vợ và 1 con nhỏ 3 tuổi. Vợ A là giáo viên. Hai vợ chồng có 1 căn nhà cho thuê với giá 10 triệu/tháng. Đứa con được kê khai là người phụ thuộc của ông A. Như vậy trong trường hợp này, tiền thuế thu nhập cá nhân ông A phải nộp được xác định như sau:

  • 10 triệu tiền cho thuê nhà hàng tháng là thu nhập của 2 vợ chồng: Ông A: 5 triệu, vợ ông A: 5 triệu;
  • Thu nhập hàng tháng của A = 15 triệu + 5 triệu = 20 triệu;
  • Thu nhập phải nộp thuế sau khi giảm trừ = 20 triệu – 4 triệu – 1,6 triệu = 14,4 triệu;

Tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp được tính theo biểu thuế sau:

Bậc thuế

Phần thu nhập tính thuế/tháng
(triệu đồng)

Phần thu nhập tính thuế/năm
(triệu đồng)

Thuế suất (%)

1

Đến 5

Đến 60

5

2

Trên 5 đến 10

Trên 60 đến 120

10

3

Trên 10 đến 18

Trên 120 đến 216 

15

4

Trên 18 đến 32

Trên 216 đến 384 

20

5

Trên 32 đến 52

Trên 384 đến 624

25

6

Trên 52 đến 80

Trên 624 đến 960

30

7

Trên 80

Trên 960

35

Tiền thuế ông A phải nộp = 5 triệu x 5% + 5 triệu x 10% + 4,4 triệu x 15% = 1,41 triệu.

Quy đinh pháp luật về giảm trừ gia cảnh được xem như một khoản chia sẻ mà nhà nước dành cho các đối tượng chịu thuế khi mà họ còn nhiều gánh nặng phải lo toan. Như vậy, để góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của mình, trong quá trình nộp thuế thu nhập cá nhân, đối tượng chịu thuế cần hiểu rõ các quy định của pháp luật về khía cạnh giảm trừ gia cảnh để có thể áp dụng một cách hiệu quả nhất khi kê khai nộp thuế.

Công Ty Luật PLF

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Liên hệ cùng PLF để được tư vấn