LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Nghĩa vụ cung cấp thông tin của công ty đại chúng

Nghĩa vụ cung cấp thông tin của công ty đại chúng
Nghĩa vụ cung cấp thông tin của công ty đại chúng

Việc công bố thông tin của công ty đại chúng đóng một vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư là cổ đông, vì việc công bố thông tin giúp nhà đầu tư nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp sau khi Công ty thực hiện huy động vốn từ công chúng. Theo quy định pháp luật Việt Nam, việc công bố thông tin của công ty đại chúng là nghĩa vụ bắt buộc. Trường hợp công ty đại chúng không đảm bảo tuân thủ thực hiện về nghĩa vụ công bố thông tin sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý như xử phạt hành chính theo quy định pháp luật chứng khoán. Vì vậy, bài viết này sẽ mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan về các quy định và nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng.

1. Vì sao công ty đại chúng phải công bố thông tin

Công ty đại chúng được hiểu là công ty cổ phần đã thực hiện huy động vốn rộng rãi thông qua hình thức chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo quy định của Luật chứng khoán 2019; hoặc là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ.

Vì vậy, để đảm bảo một thị trường chứng khoán an toàn và minh bạch cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là các nhà đầu tư không chuyên nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài, pháp luật chứng khoán đã quy định công bố thông tin là một nghĩa vụ bắt buộc đối với công ty đại chúng tại Khoản 1, Điều 34, Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14. Đồng thời, tại Khoản 6, Điều 40, Luật này quy định công bố thông tin là một trong nguyên tắc quản trị quan trọng áp dụng cho công ty đại chúng:

“Công bố thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác và minh bạch hoạt động của công ty; bảo đảm cổ đông được tiếp cận thông tin công bằng.”

Trên thực tế, có thể thấy rằng trong một số trường hợp, việc thực hiện công bố thông tin của các công ty đại chúng vẫn chưa được chú trọng và tuân thủ đúng quy định vì điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của công ty đại chúng trên thị trường, đặc biệt là các trường hợp công bố thông tin không tích cực về hoạt động quản lý và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng nếu công ty đại chúng không tuân thủ các quy định về nghĩa vu công bố thông tin thì có thể bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính như phạt tiền và/hoặc các biện pháp xử phạt bổ sung tương ứng tại Nghị định số 156/2020/NĐ-CP.

2. Nguyên tắc công bố thông tin

Khi công bố thông tin, công ty đại chúng cần tuân tủ những nguyên tắc cơ bản sau theo hướng dẫn tại Thông tư số 96/2020/TT-BTC:

  • Công bố thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định pháp luật.
  • Phải đồng thời công bố thông tin và thông báo, báo cáo với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (“UBCK”) và Sở giao dịch chứng khoán nơi chứng khoán đó niêm yết, đăng ký giao dịch.
  • Ngôn ngữ công bố thông tin cần thực hiện sẽ là tiếng Việt, trừ trường hợp áp dụng cho Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam (“VSD”) sẽ áp dụng tiếng Việt và tiếng Anh;
  • Phương tiện được công bố thông tin gồm có:
  • Trang thông tin điện tử (website) của tổ chức là đối tượng công bố thông tin;
  • Hệ thống công bố thông tin của UBCK;
  • Website của sở giao dịch chứng khoán, phương tiện công bố thông tin khác theo Quy chế sở giao dịch chứng khoán;
  • Trang thông tin điện tử của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam; các phương tiện thông tin đại chúng khác (báo in, báo điện tử…).

3. Công ty đại chúng phải thực hiện công bố thông tin như thế nào?

Theo quy định pháp luật chứng khoán, nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng sẽ liên quan đến thông tin đăng ký công ty đại chúng, báo cáo tài chính đã đươc kiểm toán hằng năm, các thông tin liên quan đến hội đồng cổ đông, hoạt động quản trị và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các giao dịch cổ phiếu hoặc tài sản của công ty; công bố thông tin bất thường khi xảy ra các sự kiện theo quy định pháp luật hoặc công bố thông tin khi yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể như sau:

3.1 Công bố thông tin sau khi đăng ký công ty đại chúng

Một trong những nghĩa vụ quan trọng của công ty đại chúng là công bố thông tin sau 07 ngày kể từ ngày Uỷ bản chứng khoán nhà nước xác nhận hoàn tất nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp.

Nghĩa vụ công bố thông tin này sẽ phải được thực hiện thông qua trang điện tử của công ty và hệ thống công bố thông tin của Uỷ ban chứng khoán nhà nước (http://www.ssc.gov.vn)

3.2 Công bố thông tin định kỳ

3.2.1 Báo cáo tài chính năm:

Định kỳ hằng năm, công ty đại chúng phải công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán, và không được vướt quá 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

3.2.2 Báo cáo thường niên:

Báo cáo thường niên phải được lập theo mẫu quy định và công bố báo cáo trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày công bố báo cáo tài chính năm được kiểm toán và không vượt quá 110 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

3.2.3 Thông tin về họp Đại hội đồng cổ đông thường niên

Trong thời hạn tối thiểu 21 ngày trước ngày khai mạc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc tùy thuộc theo thời hạn quy định tại Điều lệ công ty, Công ty đại chúng phải công bố thông tin trên website công ty và trang thông tin của Uỷ Ban chứng khoán nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán.

3.2.4 Công bố thông tin tình hình quản trị công ty

Công bố thông tin về tình hình quản trị công ty theo mẫu quy định trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm và kết thúc năm dương lịch.

3.3 Công bố thông tin bất thường

Nghĩa vụ công bố thông tin bất thường cần được thực hiện trong vòng 24 giờ tính từ thời điểm xảy ra một trong các sự kiện sau:

  • Tài khoản ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài của công ty bị phong tỏa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do có dấu hiệu gian lận, vi phạm quy định pháp luật.
  • Khi nhận được văn bản yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quyết định của doanh nghiệp về việc tạm ngưng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh; thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; sửa đổi, bổ sung hoặc bị đình chỉ, thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động;
  • Thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông bất thường;
  • Quyết định mua lại cổ phiếu của công ty hoặc bán cổ phiếu quỹ;
  • Quyết định về chính sách cổ tức, tổ chức lại doanh nghiệp, thay đổi kỳ kế toán, chính sách kế toán áp dụng; ký hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính năm hoặc thay đổi liên quan; thành lập, tăng hoặc giảm tỷ lệ sở hữu tại công ty con, công ty liên kết.
  • Quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông qua hợp đồng, giao dịch giữa công ty với người nội bộ, người có liên quan của người nội bộ hoặc người có liên quan của công ty đại chúng;
  • Các chính sách liên quan đến cổ phiếu của Công ty;
  • Các quyết định liên quan đến người quản lý doanh nghiệp;
  • Quyết định mua, bán tài sản hoặc thực hiện các giao dịch có giá trị lớn hơn 15% tổng tài sản của công ty căn cứ vào báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính 06 tháng gần nhất được soát xét. Trường hợp công ty đại chúng là công ty mẹ thì căn cứ vào báo cáo tài chính hợp nhất;
  • Khi nhận được quyết định khởi tố đối với công ty, người nội bộ của công ty; tạm giam, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nội bộ của công ty;
  • Công bố thông tin về họp Đại hội đồng cổ đông bất thường hoặc thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông dưới hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản;
  • Khi nhận được quyết định khởi tố đối với công ty, người nội bộ của công ty; tạm giam, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nội bộ của công ty;
  • Khi nhận được bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án liên quan đến hoạt động của công ty; Quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế;
  • Công ty nhận được thông báo của Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp;
  • Trường hợp công ty nhận biết được sự kiện, thông tin làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán của chính công ty, công ty phải xác nhận hoặc đính chính về sự kiện, thông tin đó;
  • Khi xảy ra các sự kiện khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tình hình quản trị của công ty;
  • Được chấp thuận hoặc hủy bỏ niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán nước ngoài.

Hoặc trong một số trường hợp công ty phải thực hiện công bố thông tin họp Đại hội đồng cổ đông bất thường hoặc thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông dưới hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản; Công bố thông tin liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền cho cổ đông hiện hữu và công bố thông tin trong các trường hợp đặc biệt khác theo quy định

3.4 Công bố thông tin theo yêu cầu

Công bố thông tin theo yêu cầu được hiểu là những công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán trong thời hạn 24 giờ khi xảy ra một trong các sự kiện sau:

  • Sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư;
  • Có thông tin liên quan đến công ty ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó.

3.5 Công bố thông tin liên quan đến hoạt động khác của công ty đại chúng

Việc công bố thông tin liên quan đến các hoạt động khác của công ty đại chúng được thực hiện trong các trường hợp sau:

  • Công bố thông tin về hoạt động chào bán, phát hành, niêm yết, đăng ký giao dịch và báo cáo sử dụng vốn;
  • Công bố thông tin về tỷ lệ sở hữu nước ngoài;
  • Công bố thông tin về giao dịch mua lại cổ phiếu của chính mình, bán cổ phiếu quỹ.

Như vậy, việc công bố thông tin là nghĩa vụ bắt buộc và thể hiện tính trách nhiệm của công ty đại chúng về các thông tin được công bố cũng như việc cập nhật, thông báo kịp thời khi có sự thay đổi các thông tin đã công bố với các nhà đâu tư. Vì vậy, các công ty đại chúng với vai trò là tổ chức thực hiện huy động vốn từ công chúng cần phải lưu ý và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp lý về công bố thông tin cũng như tránh được các rủi ro bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính từ Uỷ ban chứng khoán nhà nước nếu không tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin theo đúng quy định pháp luật.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.