LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

Nguyên Tắc Cơ Bản Trong Soạn Thảo Điều Lệ Công Ty

work-permit

” Điều lệ công ty là một cam kết giữa các chủ sỡ hữu công ty nhằm xác lập các nội dung về danh tính công ty, cách thức thành lập, góp vốn, bộ máy tổ chức, quản lý, hoạt động của công ty, cách thức công ty chấm dứt tồn tại v.v…. Để hoạt động suôn sẻ, và tránh những rắc rối với pháp luật, doanh nghiệp cần quan tâm một số điểm cơ bản trong cách soạn thảo thành lập điều lệ công ty.

Điều lệ công ty có thể hiểu là một cam kết được đồng ý bởi các chủ sở hữu công ty, giữa những người sáng lập với nhau cũng như giữa những người sáng lập với những người góp vốn (thành viên hợp danh, thành viên góp vốn vào công ty hợp danh, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông) nhằm xác lập các nội dung về danh tính công ty, cách thức thành lập, góp vốn, bộ máy tổ chức, quản lý, hoạt động của công ty, cách thức công ty chấm dứt tồn tại và những nội dung khác.

Điều lệ công ty trước hết có thể xem là một bản hợp đồng được đồng ý bởi các bên trong công ty mang tính chất quy định. Nó được xây dựng dựa trên các khuôn khổ, hành lang pháp lý mà pháp luật đề ra mặt khác lại doanh nghiệp được phép tự do chỉnh sửa, miễn là không trái pháp luật.

Xét về mặt điều hành, điều lệ công ty được hiểu như là “pháp luật của doanh nghiệp” trong đó doanh nghiệp có thể tự điều chỉnh hoạt động của mình một cách có ý chí riêng mà lại không trái pháp luật. Xét về mặt kinh doanh, điều lệ đóng một vai trò quan trọng không kém vì nó cho biết cơ cấu, nội dung doanh nghiệp, cách thức kinh doanh, hoạt động mà doanh nghiệp đề ra cho người mong muốn góp vốn hay giao dịch với công ty. Cũng bởi lẽ đó mà những đối tác đầu tư, những khách hàng luôn quan tâm, tìm hiểu kĩ về điều lệ trước khi cam kết điều gì. Bên cạnh đó, khách hàng cũng cần biết ai sẽ là người kí kết hợp đồng với họ, bởi thông qua điều lệ công ty, pháp luật có quy định ai là người đại diện.

Để hoạt động suôn sẻ, tránh được những tranh chấp phát sinh và rắc rối với pháp luật, doanh nghiệp cần quan tâm một số điểm cơ bản trong cách soạn thảo thành lập điều lệ công ty như sau:

Điều lệ không được trái với các quy định của pháp luật và không xâm phạm quyền lợi của bên thứ ba;

Điều lệ công ty là một hợp đồng nhiều bên dựa trên nguyên tắc tự nguyện, thỏa thuận để quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, tổ chức quản lý, hoạt động của công ty;

Điều lệ phải có đủ các nội dung chủ yếu quy định tại Điều 22 Luật Doanh nghiệp 2005

Thứ nhất, điều lệ công ty không được làm trái lại với những quy định của pháp luật hay xâm phạm quyền lợi bên thứ 3. Đây là nguyên tắc đầu tiên và rất cơ bản khi soạn thảo điều lệ công ty. Ví dụ:

Trong điều lệ công ty A không thể quy định điều khoản: Công ty A hoạt động trong lĩnh vực tài chính tư vấn trốn thuế cho doanh nghiệp;

Hay các chủ công ty gồm ông A, B, C, D là các cổ đông sáng lập, khi sáng lập họ muốn con trai ông A có bằng MBA làm giám đốc công ty, điều này sẽ không thể quy định trực tiếp trong điều lệ bởi lẽ chưa có cơ sở nào cho thấy con trai ông A sẽ đồng ý làm giám đốc, và như vậy đã là xâm phạm quyền tự do của con trai ông A.

Thứ hai, điều lệ công ty là một hợp đồng nhiều bên dựa trên nguyên tắc tự nguyện, thỏa thuận để quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, tổ chức quản lý, hoạt động của công ty. Như vậy điều lệ công ty trước khi được xác lập phải trải qua các bước họp và đàm phán, thảo luận những vấn đề cần được nêu ra trong điều lệ. Các bên trong công ty phải xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mình cũng như cách thức thực hiện nó để chuyển hóa vào trong điều lệ. Ví dụ về nghĩa vụ góp vốn của cổ đông sáng lập, cổ đông cần góp bao nhiêu vốn, góp vốn dưới hình thức nào : tài sản, tiền mặt hay quyền sử dụng đất… cổ đông góp nhiều lần hay một lần qua phương tiện nào: trực tiếp hay chuyển khoản ngân hàng, thời hạn cho việc góp vốn là bao lâu. Đối với các hình thức góp vốn đặc biệt như góp bằng quyền sử dụng đất cần quy định thêm thời hạn tiến hành làm thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho công ty…

Về tổ chức quản lý công ty, khi soạn thảo cũng cần lưu ý, thảo luận đề ra rõ ràng về cơ cấu quản lý công ty để tránh xảy ra tình trạng lạm quyền, đối với công ty cổ phần, phần quy định này càng trở nên quan trọng hơn. Hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm soát cần phải được ghi nhận trong điều lệ, kèm theo là nội dung hoạt động, quyền hạn, nghĩa vụ của các ban đó đồng thời chỉ rõ ai là người đại diện theo pháp luật của công ty. Xác định đúng và quy định rõ các vấn đề trong điều lệ công ty góp phần giảm thiểu tranh chấp nội bộ công ty.

Thứ ba, điều lệ phải có đủ các nội dung chủ yếu theo quy định pháp luật như sau:

1. Tên, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện.

2. Ngành, nghề kinh doanh.

3. Vốn điều lệ; cách thức tăng và giảm vốn điều lệ.

4. Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của chủ sở hữu công ty, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần.

5. Phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh; số cổ phần của cổ đông sáng lập, loại cổ phần, mệnh giá cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại đối với công ty cổ phần.

6. Quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; của cổ đông đối với công ty cổ phần.

7. Cơ cấu tổ chức quản lý.

8. Người đại diện theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

9. Thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ.

10. Căn cứ và phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho người quản lý và thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên.

11. Những trường hợp thành viên có thể yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần đối với công ty cổ phần.

12. Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh.

13. Các trường hợp giải thể, trình tự giải thể và thủ tục thanh lý tài sản công ty.

14. Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.

15. Họ, tên, chữ ký của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của người đại diện theo pháp luật, của chủ sở hữu công ty, của các thành viên hoặc người đại diện theo uỷ quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập, người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần.

16. Các nội dung khác do thành viên, cổ đông thoả thuận nhưng không được trái với quy định của pháp luật.

Lưu ý thêm rằng xuyên suốt Luật doanh nghiệp 2005 có để ngõ nhiều điều luật nhường phần cho ý chí của chủ công ty quy định theo điều lệ cũng như quy định các tỷ lệ phần tối đa hoặc tối thiểu về số vốn để ra quyết định nào đó. Ví dụ tại khoản 2 điều 41 về quyền của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn quy định rằng “Thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu trên 25% vốn điều lệ hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền”. Ta có thể thấy Luật doanh nghiệp 2005 đã tạo sẵn các hành lang cho sự quy định của điều lệ, nhưng điều lệ công ty nếu có quy định cũng không được phá vỡ những mức tối đa hay tối thiểu do luật định.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Liên hệ cùng PLF để được tư vấn