LĨNH VỰC ĐẦU TƯ

Những công việc pháp lý mà công ty cổ phần cần thực hiện sau khi được cấp phép thành lập theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2020

Những công việc pháp lý mà công ty cổ phần cần thực hiện sau khi được cấp phép thành lập theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2020
Những công việc pháp lý mà công ty cổ phần cần thực hiện sau khi được cấp phép thành lập theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2020

Hiện nay, với một số ưu điểm nổi trội về vấn đề huy động vốn, công ty cổ phần được xem là một trong số những loại hình doanh nghiệp được các nhà đầu tư lựa chọn nhiều để đăng ký và tổ chức hoạt động cho công ty của mình. Mặc dù là một loại hình doanh nghiệp phổ biến, tuy nhiên vẫn có nhiều công ty cổ phần cũng như nhà đầu tư chưa nắm được hết những công việc pháp lý cần phải thực hiện để đảm bảo quá trình hoạt động của công ty tuân thủ đúng quy định pháp luật. Bài viết này sẽ cung cấp đến bạn đọc một số những lưu ý liên quan đến các công việc pháp lý mà công ty cổ phần cần thực hiện sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020.

1. Làm con dấu

Theo quy định mới, Luật Doanh nghiệp cho phép công ty tự định đoạt về hình thức con dấu theo hai cách: làm dấu tại cơ sở khắc dấu như cách thức truyện thống hoặc dưới hình thức chữ ký số theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần lưu ý rằng việc quản lý, lưu giữ và sử dụng dấu sẽ được thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp – những văn bản nội bộ do công ty soạn thảo.

2. Lưu ý về thời hạn góp vốn điều lệ của công ty sau khi được thành lập

Theo quy định, thời hạn để cổ đông hoàn tất nghĩa vụ góp vốn điều lệ theo đúng cam kết để thành lập công ty cổ phần là sau 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp các cổ động không tiến hành góp đủ hoặc không góp vốn điều lệ trong khoản thời gian trên thì công ty cổ phần phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ, tỷ lệ sở hữu của các cổ đông bằng với số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ.

3. Tiến hành lập và quản lý sổ đăng ký cổ đông của doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp có quy định về việc sau khi được thành lập, công ty cổ phần phải tiến hành lập và lưu trữ sổ đăng ký cổ đông. Sổ cổ đông là văn bản nội bộ chính xác và kịp thời nhất để xác nhận việc chuyển nhượng cổ phần và sở hữu cổ phần của cổ đông, là căn cứ để tiến hành việc phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần. Sổ đăng ký cổ đông được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty hoặc các tổ chức khác có chức năng lưu giữ sổ đăng ký cổ đông. Sau thời hạn phải góp đủ vốn – 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tư cách cổ đông của chủ sở hữu công ty cổ phần chỉ được chính thức công nhận sau khi những thông tin của họ được ghi vào sổ đăng ký cổ đông của doanh nghiệp. Theo đó, có thể thấy tầm quan trọng rất lớn của sổ đăng ký cổ đông trong hoạt động của công ty cổ phần.

4. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý của công ty

Có thể nói một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chính là cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp. Mặc dù thông tin này đã được quy định một phần trong hồ sơ xin câp phép để thành lập công ty cổ phần nộp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, cụ thể là được quy định rõ tại điều lệ công ty. Tuy nhiên, để nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp cũng như tuân thủ đúng quy định của pháp luật, ngay sau khi được cấp phép thành lập, công ty cổ phần cần tiến hành một số công việc sau liên quan đến cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp:

(i) Đại hội đồng cổ đông tiến hành Bầu Hội đồng quản trị của Công ty:

Theo Luật Doanh nghiệp, Hội đồng quản trị của Công ty là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ các quyền và nghĩa vụ thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Theo đó, Hội đồng quản trị đóng một vai trò trọng yếu trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc lựa chọn thành viên, bầu và tổ chức Hội đồng quản trị công ty cổ phần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và điều lệ công ty.

(ii) Đại hội đồng cổ đông quyết định về cơ cấu tổ chức quản lý công ty: theo quy định của Luật Doanh nghiệp, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

  • Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
  • Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của Ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành.

Theo đó, tùy theo quy mô của công ty cổ phần cũng như ý kiến của các cổ đông mà đại hội đồng cổ đông có thể quyết định lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý công ty sao cho phù hợp.

(iii) Đại hội đồng cổ đông tiến hành những công việc cần thiết khác để hoàn tất khâu tổ chức doanh nghiệp theo đúng thẩm quyền được quy định trong Luật Doanh nghiệp và điều lệ công ty, như bầu Ban Kiếm soát (nếu có); Quyết định ngân sách hoặc tổng mức thù lao, thưởng và lợi ích khác cho Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; Phê duyệt quy chế quản trị nội bộ; quy chế hoạt động Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;…

(iv) Hội đồng quản trị tiến hành họp bàn để bầu ra Chủ tịch Hội đồng quản trị; lựa chọn các vị trí quản lý công ty như giám đốc, tổng giám đốc,..và thực hiện những công việc thuộc thẩm quyền của mình theo đúng quy định pháp luật.

Từ những thông tin trên, ta có thể nhận thấy rằng pháp luật doanh nghiệp đã có những quy định về những công việc mà công ty cổ phần phải tiến hành sau khi được cấp phép thành lập. Để tìm hiểu thêm về cách thức chuẩn bị, quy trình tiến hành các công việc này, đọc giả có thể tham khảo các quy định có liên quan được ghi nhận tại Luật Doanh nghiệp 2020.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.