LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022

Những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022
Những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022

Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, cùng với việc tham gia nhiều hiệp ước quốc tế của Việt Nam nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác, sử dụng các sản phẩm sở hữu trí tuệ, thực thi pháp luật trong nước , Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam được ban hành năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019 tiếp tục được Quốc hội điều chỉnh và sửa đổi năm 2022. Với những quy định mới này, Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 sẽ góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, cũng nhưkhuyến khích hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy, bài viết này sẽ tóm tắt những nội dung được nỗi bật và quan trọng liên quan đến những thay đổi trong Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2022 liên quan đến các nhóm quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp.

1. Hiệu lực thi hành

Về hiệu lực thi hành văn bản pháp luật, Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ 2022 sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2023. Riêng với quy định về nhãn hiệu âm thanh sẽ có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2022 và quy định về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm dùng cho nông hóa phẩm sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 14 tháng 01 năm 2024.

2. Những quy định mới được điều chỉnh và bổ sung

Về nội dung, Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 được điều chỉnh và bổ dung các quy đinh sau đây:

2.1 Những khái niệm mới được bổ sung và điều chỉnh tại Điều 4 và Điều 12, 36 Luật sở hữu trí tuệ:

  • Đầu tiên có thể thấy rằng, Luật Sở hữu trí tuệ được điều chỉnh và bổ sung năm 2022 đã loại bỏ khái niệm “nhãn hiệu liên kết”, nhằm hỗ trợ quá trình thủ thực hiện đăng ký nhãn hiệu được thuận tiện và đơn giản hơn đối với chủ đơn có nhiều nhãn hiệu cần thực hiện đăng ký bảo hộ.
  • Tiếp theo, một khái niệm chung về “tiền bản quyền” được thay thế cho các khái niệm trước đây “nhuận bút”, “thù lao”, “quyền lợi vật chất” để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
  • Cuối cùng, sửa đổi, bổ sung và làm rõ một số khái niệm về “tác phẩm phái sinh”, “tác giả”, “đồng tác giả”, “Chủ sở hữu quyền tác giả”, “biện pháp công nghệ bảo vệ quyền”; “thông tin quản lý quyền”; “kiểu dáng công nghiệp”; “nhãn hiệu nỗi tiếng”; và “chỉ dẫn địa lý đồng âm” nhằm thúc đẩy quá trình nội luật hóa các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như EVFTA, TRIPS, CTPPP.

2.2 Những điểm mới về quyền tác giả, và quyền liên quan

  • Sửa đổi và làm rõ hơn phạm vi quyền tài sản liên quan đến Quyền biểu diễn; Quyền sao chép; Quyền phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng; Quyền truyền đạt, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn; Quyền cho thuê của tác giả, chủ sở hữu quyền hoặc bên thứ ba khác được tác giả hoặc chủ sở hữu cho phép sử dụng và khai thác tại Điều 20.
  • Sửa đổi, bổ sung và làm rõ nội dung các quy định về Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu tại Điều 21; Quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu và quy định về khả năng thỏa thuận đối với quyền nâng cấp sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính tại Điều 22; Quyền của người biểu diễn tại điều 29, Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tại Điều 30; Quyền của tổ chức phát sóng tại Điều 31.
  • Sửa đổi quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả, không phải trả tiền bản quyền tại Điều 25; Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả nhưng phải trả tiền bản quyền tại Điều 26.
  • Điều chỉnh và cấu trúc lại nội dung quy định liên quan đến Hành vi xâm phạm quyền tác giả tại Điều 28; Các trường hợp sử dụng đối tượng quyền liên quan không phải xin phép chủ sở hữu quyền liên quan, không phải trả tiền bản quyền tại Điều 32, Các trường hợp sử dụng đối tượng quyền liên quan không phải xin phép chủ sở hữu quyền liên quan nhưng phải trả tiền bản quyền tại Điều 33; Hành vi xâm phạm quyền liên quan tại Điều 35
  • Bổ sung quy định mới liên quan đến thủ tục đăng ký bảo hộ quyền tác giả tại Điều 40, 52 và 55 Luật Sở hữu trí tuệ.

2.3 Những điểm mới quyền sở hữu công nghiệp

Trong nhóm quyền sở hữu công nghiệp, các đối tượng tương ứng trong Luật Sở hữu trí tuệ trước đây cũng được điều chỉnh tương ưng như:

a. Đối với sáng chế: quy định về tính mới của sáng chế được điều chỉnh liên quan đến những trường hợp sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ưu tiên sớm hơn.

b. Nhãn hiệu âm thanh: khái niệm nhãn hiệu âm thanh được bổ sung tại Khoản 1, Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi năm 2022 nhằm nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc gia phù hợp quy định đã thỏa thuận tại Hiệp định CPTPP mà Việt Nam là thành viên. Trong đó, “dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa” được xem là một dấu hiệu mới về nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam.

c. Nhãn hiệu thông thường: các dấu hiệu mang tính phân biệt của nhãn hiệu tại Điều 74, Luật Sở hữu trí tuệ cũng được điều chỉnh tương ứng.

d. Nhãn hiệu nỗi tiếng: được điều chỉnh theo hướng lựa chọn từ một số hoặc tất cả các tiêu chí quy định tại Điều 75, Luật Sở hữu trí tuệ để xem xét và công nhận một nhãn hiệu là nhãn hiệu nỗi tiếng trong từng trường hợp cụ thể.

e. Chỉ dẫn địa lý: Khái niệm chỉ dẫn địa lý đồng âm được bổ sung nhằm làm rõ khả năng bảo hộ nếu việc sử dụng thực tế các chỉ dẫn địa lý đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.

f. Các đối tượng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước, tại Điều 133 (a) được bổ sung theo hướng trao quyền đăng ký cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn, đồng thời có cơ chế phân chia hợp lý lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW Đảng khóa 11.

g. Ngoài ra, các quy định về trình tự thủ tục liên quan đến chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ, hủy bỏ hiệu lực của văn bằng bảo hộ, thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa ký, từ chối cấp văn bằng bảo hộ, khiếu nại liên quan đến thủ tục về quyền sở hữu công nghiệp cũng được điều chỉnh phù hợp và hỗ trợ cho quá trình thực hiện và áp dụng có thủ tục hành chính được thuận tiện hơn.

2.4 Các quy định điều chỉnh liên quan đến vấn đề thi hành Luật Sở hữu trí tuệ

a. Quyền Tự bảo vệ tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ, bổ sung nội dung liên quan đến biện pháp công nghệ và thông tin quản lý quyền để đảm bảo thực thi trong môi trường số, phù hợp với cam kết quốc tế.

b. Các biện pháp bảo vệ quyền về hành chính và hình sự được điều chỉnh và bổ sung như sau:

  • Khái niệm hàng hóa giả mạo tại Điều 213 được tách biệt về khái niệm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa chỉ dẫn địa lý. Ngoài ra, quy định mới cũng thay cụm từ “chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan” cho cụm từ “chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền liên quan” tại Khoản 3 nhằm tạo thuận lợi cho thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và thống nhất cách hiểu khi áp dụng quy định trên thực tế
  • Biện pháp Hành chính tại Điều 214: Quy định rõ ràng về các trường hợp áp dụng biện pháp hành chính và bổ sung các quy định tương ứng nhằm chỉ dẫn và áp dụng tương ứng với quy định Luật xử lý hành chính và các văn bản hướng dẫn thi thành liên quan.
  • Biện pháp Hình sự tại Điều 212: Bổ sung thêm đối tượng chịu trách nhiệm hình sự là Tố chức thương mại nếu có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

c. Biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ tại tại Điều 216, ngoài trường hợp có yêu cầu của chủ thể quyền, Luật Sở hữu trí tuệ còn bổ sung thêm phương án chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan nếu trong quá trình tác nghiệp cơ quan hải quan phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất, nhập khẩu là hàng giả mạo sở hữu trí tuệ. Biện pháp này được bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT.

Tóm lại, có thể thấy rằng Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 đã cập nhật và điều chỉnh rất nhiều quy định mới để phù hợp các cam kết của Việt Nam đối với Hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như hỗ trợ quá trình hội nhập và đưa các quy định mới và thông lệ quốc tế vào áp dụng tại Việt Nam. Vì vậy, các chủ thể quyền, tổ chức và cá nhân liên quan cũng cần lưu ý để có kế hoạch điều chỉnh và áp dụng kịp thời nhằm bảo vệ tốt nhất quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản của mình và tránh những vi xâm phạm quyền của chủ thể khác trong hoạt động kinh doạnh, thương mại.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.