Được viết bởi Công ty luật PLF

Trong bối cảnh khủng hoảng, các nhà đầu tư ngoại có xu hướng tìm kiếm một kênh kinh doanh “an toàn” hơn bằng nhượng quyền thương mại. Nhưng đây có phải là “miền đất hứa” hay không thì còn tùy vào sự am hiểu luật pháp của nhà đầu tư.

Theo Luật thương mại 2005, quyền thương mại bao gồm quyền sở hữu trí tuệ và các trợ giúp kỹ thuật có liên quan. Do đó, hợp đồng nhượng quyền bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, ít nhất là chung nhãn hiệu, chung tên thương mại, chung cách trình bày, chung bí mật kinh doanh. Đây là thông tin pháp lý quan trọng nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

 

“Bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp thông tin về hệ thống nhượng quyền thương mại của mình cho bên dự kiến nhận nhượng quyền ít nhất 15 ngày làm việc trước khi ký kết hợp đồng. Thông tin được cung cấp phải có các nội dung bắt buộc theo quy định pháp luật Việt Nam.”

Sau khi ký hợp đồng, các thông tin nêu trên trở thành bộ phận không thể tách rời của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Do đó, bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp thông tin cho tất cả các bên nhận quyền về mọi thay đổi quan trọng trong hệ thống nhượng quyền thương mại muộn nhất 60 ngày sau khi có thay đổi hoặc sau khi biết được thay đổi đó. Nếu bên nhận quyền không đồng ý với các thay đổi đó thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng chỉ cần thông báo trước cho bên nhượng quyền tối thiểu 30 ngày.

Đối với các hợp đồng nhượng quyền lại cho bên thứ ba, bên nhượng quyền lại cho bên thứ ba cũng phải cung cấp thông tin bằng văn bản về bên nhượng quyền ban đầu; nội dung chủ yếu của hợp đồng nhượng quyền thương mại chung; thông tin về quan hệ giữa bên nhượng quyền ban đầu và bên nhượng quyền lại cho bên thứ ba; cách xử lý các hợp đồng nhượng quyền lại cho người thứ ba trong trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại chung.

Tài liệu thông tin mà bên nhượng quyền cung cấp cho bên nhận quyền sẽ giúp bên nhận quyền có cái nhìn tổng quan về hoạt động của công ty. Cần lưu ý là nếu có sự lừa dối hay nhầm lẫn nào trong việc cung cấp thông tin dẫn đến việc các bên giao kết hợp đồng, thì đây có thể là bằng chứng để yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn hoặc bị lừa dối.

Bên nhượng quyền không được thông tin một chiều, đưa ra những thông tin tốt, còn những thông tin không tốt thì giấu bên nhận quyền. Việc che dấu thông tin có thể bị coi là hành động lừa dối để yêu cầu tòa án tuyên giao dịch dân sự vô hiệu. Hoặc việc che giấu, thông tin sai có thể là hành vi vi phạm điều khoản “cam đoan và bảo đảm” trong hợp đồng nhượng quyền.

Nếu hợp đồng nhượng quyền bị tuyên bố vô hiệu, thì nhượng quyền thương mại khó mà trở thành “miền đất hứa” cho doanh nghiệp ngoại; Trong khi đó, lợi ích về thương hiệu, phương pháp marketing, hệ thống đào tạo và hỗ trợ,… mà doanh nghiệp nhượng quyền/ nhận quyền đã bỏ ra khó mà cân đong đo đếm được.

Liên hệ cùng PLF để được tư vấn