LĨNH VỰC LAO ĐỘNG

Phát Hành ESOP – Ưu Và Nhược Điểm Đối Với Doanh Nghiệp

Issuance Of Esop - Pros And Cons For Enterprises

ESOP là viết tắt của cụm từ Employee Stock Ownership Plan, tạm dịch sang tiếng Việt là Kế hoạch thực hiện quyền sở hữu cổ phần cho người lao động. Có thể nói ngày nay, ESOP đã và đang là một phương thức phổ biến để doanh nghiệp níu giữ những người lao động ưu tú và chủ chốt. Về bản chất, ESOP là chiến lược tài chính doanh nghiệp khi dùng cổ phiếu để thưởng hoặc bán lại cho người lao động với giá ưu đãi. Mục đích của chiến lược này là để gắn kết lợi ích của nhân viên với lợi ích của cổ đông và với công ty, mang lại cho họ quyền sở hữu cổ phần trong công ty.”

ESOP trong Công ty đại chúng

Pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ quy định rõ hành lang pháp lý về ESOP trong các công ty đại chúng. Theo quy định tại Luật chứng khoán năm 2019, một công ty cổ phần thuộc một trong các trường hợp sau đây có thể đăng ký thành công ty đại chúng với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước:

  • (i). có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ;
  • đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Theo quy định tại Nghị định 155/2020/NĐ-CP, điều kiện để công ty đại chúng phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty được quy định như sau: 

  • (i). Có phương án phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động được Đại hội đồng cổ đông thông qua
  • Tổng số cổ phiếu phát hành theo chương trình trong mỗi 12 tháng không được vượt quá 5% số cổ phiếu đang lưu hành của công ty.
  • Có tiêu chuẩn và danh sách người lao động được tham gia chương trình, nguyên tắc xác định số cổ phiếu được phân phối cho từng đối tượng và thời gian thực hiện được Đại hội đồng cổ đông thông qua hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị thông qua.
  • Trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động, nguồn vốn chủ sở hữu đủ để tăng vốn cổ phần, bao gồm các nguồn thặng dư vốn cổ phần; quỹ đầu tư phát triển; lợi nhuận sau thuế chưa phân phối; quỹ khác (nếu có) được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật. Theo đó, tổng giá trị các nguồn vốn theo quy định pháp luật phải đảm bảo không thấp hơn tổng giá trị vốn cổ phần tăng thêm theo phương án được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
  • Phải mở tài khoản phong tỏa nhận tiền mua cổ phiếu của người lao động trừ trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động.
  • Trường hợp phát hành cho người lao động là nhà đầu tư nước ngoài, việc phát hành cổ phiếu đáp ứng quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài theo quy định của pháp luật.
  • Cổ phiếu phát hành bị hạn chế chuyển nhượng tối thiểu 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành.
  • Trường hợp là tổ chức tín dụng thì phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận về đề nghị tăng vốn điều lệ đối với việc phát hành cổ phiếu của tổ chức tín dụng; trường hợp là tổ chức kinh doanh bảo hiểm thì phải được Bộ Tài chính chấp thuận việc tăng vốn điều lệ đối với việc phát hành cổ phiếu.

Ngoài ra, công ty đại chúng phải báo cáo và nộp các tài liệu ESOP cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn 07 ngày làm việc sẽ phản hồi việc chấp thuận ESOP hay không. Khi được chấp thuận, công ty đại chúng phải công bố Bản thông báo phát hành trên trang thông tin điện tử của mình, Sở giao dịch chứng khoán. Việc công bố thông tin trên phải được thực hiện ít nhất 07 ngày làm việc trước ngày kết thúc đợt phát hành.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc đợt phát hành (ngày kết thúc việc thu tiền mua cổ phiếu của người lao động, ngày được tổ chức phát hành xác định để phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động), tổ chức phát hành phải gửi Báo cáo kết quả đợt phát hành cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và công bố thông tin trên trang thông tin điện tử của tổ chức phát hành, Sở giao dịch chứng khoán về kết quả đợt phát hành.

Hiện nay, pháp luật không quy định điều kiện để người lao động được phép tham gia ESOP. Việc lựa chọn và đưa ra tiêu chí cho người lao động tham gia ESOP sẽ phụ thuộc vào quyết định của mỗi công ty. Do đó, doanh nghiệp có quyền chủ động chọn lọc và xây dựng tiêu chí để lựa chọn những người lao động ưu tú để tham gia ESOP.

ESOP trong công ty không phải là công ty đại chúng

Trong khi một công ty đại chúng phải đáp ứng một số điều kiện và tuân thủ quy trình theo luật định để phát hành ESOP, một công ty cổ phần thông thường không phải là một công ty đại chúng nếu muốn phát hành ESOP thì chỉ cần thủ tục tăng vốn điều lệ thông thường theo quy định Luật doanh nghiệp hiện hành. Ngày hoàn tất quy trình ESOP trong trường hợp này là ngày thanh toán đầy đủ trong trường hợp mua cổ phần (ngày hoàn tất tăng vốn điều lệ) hoặc ngày chuyển nhượng cổ phần được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Ưu và nhược điểm của ESOP

ESOP đã và đang là công cụ tài chính đắc lực giúp cho doanh nghiệp. Đối với người lao động, ESOP được xem như là một phần thưởng, gắn kết quyền lợi công ty với chính người lao động để họ nỗ lực hơn nữa để đóng góp cho doanh nghiệp hơn trong tương lai. Đối với doanh nghiệp, việc phát hành ESOP giúp cho doanh nghiệp giữ chân nhân sự ưu tú và nòng cốt. Ngoài ra, bằng cách phát hành cổ phiếu ESOP thưởng, doanh nghiệp không phải chi thưởng tiền mặt mà sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại để phát hành cổ phiếu.

Cùng với những lợi ích tích cực mà ESOP mang lại như trên, việc phát hành ESOP cũng tiềm ẩn một số rủi ro. Điều này xuất phát từ thực tế ngày càng có nhiều tranh chấp về lợi ích của cổ đông trong công ty, giữa những người lao động mà có liên quan đến ESOP.

Theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác, các nghị quyết liên quan đến việc phát hành ESOP phải được ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên của tất cả cổ đông dự họp tán thành. Do đó, nếu các cổ đông thiểu số có ý kiến không tán thành sẽ khó mà phản đối việc phát hành ESOP dù cho việc phát hành ESOP sẽ pha loãng tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty, giảm quyền biểu quyết sau mỗi đợt phát hành ESOP. Hệ quả là việc phát hành ESOP dễ trở thành công cụ để các nhà quản lý gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư.

Ngoài ra, việc pháp luật trao quyền cho doanh nghiệp tự do đặt tiêu chí và cơ chế lựa chọn người lao động được hưởng ESOP dễ dẫn đến cơ chế lựa chọn không minh bạch rõ ràng, gây mâu thuẫn nội bộ, tỷ lệ sở hữu cổ phần bị pha loãng và dễ đi kèm với nguy cơ sụt giảm giá cổ phiếu.

Nhìn chung, ESOP đã và đang là chiến lược tài chính đắc lực cho doanh nghiệp, phục vụ cho việc kinh doanh cũng như khuyến khích và giữ chân người lao động. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần cân đối lợi ích của cổ đông với lợi ích của nhân viên khi lập kế hoạch phát hành ESOP, vận dụng và nhìn vào lợi ích khích lệ của ESOP để phát huy hiệu quả ESOP, mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.

Thời gian viết bài: Ngày 23/09/2021

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Liên hệ PLF để được tư vấn