LĨNH VỰC ĐẦU TƯ

Thành lập văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam nên hay không?

Thành lập văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam, nên hay không?
Thành lập văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam, nên hay không?

Thực hiện đầu tư vào Việt Nam, ngoài việc lựa chọn thành lập Công ty 100% vốn nước ngoài hay thực hiện thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp ở Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài còn có thể thành lập hiện diện thương mại dưới dạng Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài. Theo dữ liệu của Sở Công thương TP. Hồ Chí Minh, từ năm 2010 đến nay đã có hơn 3600 Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài được thành lập và các nhà đầu tư nước ngoài còn thành lập Văn phòng đại diện song song với thành lập công ty con tại Việt Nam. Bài viết dưới đây sẽ phân tích quyền lợi và nghĩa vụ của Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài để đánh giá xem đây có thực sự là một lựa chọn đầu tư hợp lý cho nhà đầu tư nước ngoài ở thời điểm hiện tại không.

1. Khái niệm Văn phòng đại diện của Thương nhân nước ngoài

Theo định nghĩa của Luật Thương mại 2005 thì Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài (sau đây gọi tắt là VPDD nước ngoài) là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép.

Như vậy, khác với Công ty 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân, được độc lập thực hiện hoạt động kinh doanh và tạo ra tài sản, VPDD nước ngoài chỉ là đơn vị phụ thuộc của nhà đầu tư ở nước ngoài. Vai trò của VPDD nước ngoài là thay mặt cho nhà đầu tư để thực hiện một số hoạt động nhằm nghiên cứu về thị trường Việt Nam như quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ, tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại,… mà không tạo ra lợi nhuận.

2. Quyền và nghĩa vụ của Văn phòng đại diện của Thương nhân nước ngoài

Về chức năng hoạt động, VPDD nước ngoài chỉ có chức năng là văn phòng liên lạc, tìm hiểu thị trường, xúc tiến thúc đẩy cơ hội đầu tư kinh doanh của thương nhân mà mình đại diện. Theo đó, Văn phòng đại diện có các quyền sau:

– Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Văn phòng đại diện;

– Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc;

– Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của Văn phòng đại diện;

– Có con dấu mang tên Văn phòng đại diện.

Tương ứng với các quyền này, Văn phòng đại diện của thương nhân có các nghĩa vụ như sau:

– Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam;

– Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà luật cho phép;

– Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện có giấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc giao kết các hợp đồng lao động, hợp đồng để thuê trụ sở, mở tài khoản cho Văn phòng;

– Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam;

– Báo cáo hoạt động của Văn phòng đại diện.

3. Đánh giá và ưu, nhược điểm của Văn phòng đại diện nước ngoài

Nhìn chung, Văn phòng đại diện là lựa chọn khả thi trong trường hợp nhà đầu tư mong muốn tìm hiểu về thị trường trước khi thực hiện dự án đầu tư. Sở dĩ, mô hình thành lập Văn phòng đại diện hiện được khá nhiều nhà đầu tư quan tâm, điều này xuất phát từ một số ưu thế mà hình thức này mang lại, có thể điểm qua một số điểm như:

Văn phòng đại diện với tư cách đại diện hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sẽ được quyền thay mặt nhà đầu tư để thực hiện các hoạt động như nghiên cứu thị trường (nguồn hàng hoá, nhu cầu của người tiêu dùng, các mạng lưới nhà cung cấp, chính sách của chính phủ Việt Nam …), từ đó xúc tiến các hợp đồng kinh doanh, phát triển nguồn khách hàng cho chính các thương nhân cũng như chuẩn bị các vấn đề cần thiết cho kế hoạch thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.

Thủ tục thành lập VPDD nước ngoài đơn giản hơn so với thành lập công ty, nhà đầu tư không phải bỏ vốn nhiều cho chi phí vận hành và không cần một bộ máy nhân sự phức tạp, giúp nhà đầu tư tiết kiệm chi phí quản lý trong quá trình tìm hiểu về thị trường trước khi quyết định đầu tư.

Văn phòng đại diện không chịu các loại thuế như thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập doanh nghiệp và không phải đáp ứng các yêu cầu phức tạp về sổ sách kế toán mà chỉ cần thực hiện thủ tục kê khai, nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho người lao động. Cuối cùng, trong trường hợp nhà đầu tư muốn chấm dứt hoạt động của VPDD, thủ tục cũng đơn giản và nhanh chóng hơn nhiều so với việc chấm dứt một dự án đầu tư theo quy định của pháp luật doanh nghiệp.

Tuy nhiên, như đã đề cập, với tư cách là đơn vị phụ thuộc của nhà đầu tư nước ngoài, việc vận hành Văn phòng đại diện nước ngoài có nhiều hạn chế, cụ thể như:

– Thời hạn hoạt động của Văn phòng đại diện là 05 năm và phải thực hiện thủ tục gia hạn ít nhất 30 ngày trước khi giấy phép hết hạn. Trong khi đó, thời hạn hoạt động của dự án đầu tư là từ 50 đến 70 năm.

– Văn phòng đại diện nước ngoài không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại cho nhà đầu tư nước ngoài mà chỉ được ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại khi được nhà đầu tư nước ngoài ủy quyền. Tương tự, Văn phòng đại diện chỉ được trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của thương nhân do mình đại diện tại trụ sở của Văn phòng đại diện. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ để thực hiện trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân mà mình đại diện. Đối với quyền tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại, VPDD nước ngoài cũng không được trực tiếp tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại nếu không được công ty mẹ uỷ quyền.

Như vậy, phạm vi hoạt động của VPDD nước ngoài bị giới hạn rất nhiều, các hoạt động xúc tiến thương mại đều cần có sự uỷ quyền từ công ty mẹ và bị giới hạn thời gian hoạt động mỗi 5 năm. Để phục vụ cho hoạt động của mình, VPDD nước ngoài chỉ có các quyền cơ bản như thuê trụ sở, tuyển dụng lao động, mở tài khoản và có con dấu, ngoài ra không có tài sản độc lập và tự quyết định các vấn đề liên quan đến nội dung hoạt động của mình. Nói cách khác, Văn phòng đại diện nước ngoài hoàn toàn không có chức năng kinh doanh và không tạo ra lợi nhuận.

Trong khi đó, việc hiện diện tại Việt Nam với hình thức thành lập doanh nghiệp sẽ được độc lập khi thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, được quyền tự mình giao kết và thực hiện các hợp đồng, thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài và tạo ra lợi nhuận, vị thế doanh nghiệp trên thị trường. Ngoài ra, nhà đầu tư còn có thể mở thêm các đơn vị phụ thuộc của công ty là chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh để thực hiện hoạt động khảo sát thị trường.

Nhìn chung, việc thành lập văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn đầu khi thương nhân nước ngoài có ý định muốn tìm hiểu, đầu tư vào thị trường Việt Nam. Bởi lẽ văn phòng đại diện nước ngoài sẽ là trung gian liên lạc, khảo sát thị trường, thị hiếu khách hàng nội địa, tìm kiếm khách hàng và nguồn hàng hoá, dịch vụ với chi phí thấp. Khi đạt được mục tiêu khảo sát thị trường, nhà đầu tư cần một tổ chức độc lập, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đủ năng lực hoạt động bằng tài sản của mình và thực hiện các giao dịch để sinh ra lợi nhuận. Lúc này, vai trò của Văn phòng đại diện nước ngoài đã không còn phù hợp. Do đó, tuỳ thuộc vào ý định của nhà đầu tư mà lựa chọn thành lập Văn phòng đại diện hay trực tiếp thành lập công ty để vừa nghiên cứu thị trường vừa tạo ra lợi nhuận.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.