LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

Ủy Quyền Cho Người Nước Ngoài

arlington-research-Kz8nHVg_tGI-unsplash

“Hình thức ủy quyền cho người nước ngoài do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định thì việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.”

Hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật về ủy quyền chưa có quy định cụ thể về việc ủy quyền cho người nước ngoài. Nhìn chung, việc ủy quyền cho người nước ngoài được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự thông qua chế định về ủy quyền.

Điều đáng lưu ý trong Bộ luật Dân sự là đối tượng người đại diện theo ủy quyền :

“1. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.”

Như vậy, với cách quy định chung của Bộ luật Dân sự thì đối tượng là người đại diện theo ủy quyền, bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài.

Mặc dù không trực tiếp đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người được ủy quyền là người nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể, uỷ quyền cho người nước ngoài vẫn được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự và một số văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đến các hoạt động trong phạm vi ủy quyền như: phạm vi, hình thức ủy quyền; hậu quả của giao dịch thực hiện vượt quá phạm vi được ủy quyền; chấm dứt ủy quyền.

Khi xác lập quan hệ ủy quyền, người nước ngoài được ủy quyền có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự trong phạm vi được ủy quyền. Tuy nhiên, họ không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Pháp luật Việt Nam có quy định một số hoạt động mà người nước ngoài không được phép thực hiện mặc dù có trong phạm vi được ủy quyền như: mua nhà ở (trừ trường hợp căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại), nhận chuyển quyền sử dụng đất ở.

Tương tự trường hợp ủy quyền cho người Việt Nam, người được ủy quyền là người nước ngoài chấm dứt công việc khi thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền đã hoàn thành; người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền, hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền; người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, hoặc bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

Công Ty Luật PLF

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Liên hệ PLF để được tư vấn