LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Xác định khả năng đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu tại Việt Nam

Xác Định Khả Năng Đăng Ký Bảo Hộ Đối Với Nhãn Hiệu Tại Việt Nam
Xác Định Khả Năng Đăng Ký Bảo Hộ Đối Với Nhãn Hiệu Tại Việt Nam

Bảo hộ nhãn hiệu giờ đây ngày càng được nhiều doanh nghiệp chú trọng trong quá trình doanh nghiệp tìm kiếm các phương thức để đảm bảo quyền sở hữu của mình đối với nhãn hiệu. Tuy nhiên điều này cũng không đồng nghĩa rằng nhãn hiệu của doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện để được bảo hộ. Một điều mà các doanh nghiệp thường gặp phải tại thời điểm hình thành nhãn hiệu là việc xem xét đến các yếu tố về thẩm mĩ mà chưa xem xét đến yếu tố trùng lặp với các nhãn hiệu của doanh nghiệp khác hoặc các yếu tố mà pháp luật đặt ra để nhãn hiệu được bảo hộ, điều này cũng gây ra một số bất lợi cho chính doanh nghiệp trong quá trình phát triển, lưu hành sản phẩm, cung cấp dịch vụ. Để loại trừ những bất lợi này, bài viết dưới đây đưa ra một số tiêu chí về nhãn hiệu mà doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình tạo ra hình ảnh nhãn hiệu của chính doanh nghiệp.

  1. Các đặc điểm của nhãn hiệu

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Lấy ngành công nghiệp sản xuất ô tô làm ví dụ, khi nhắc đến Mercedes, người tiêu dùng nhớ đến hình ảnh dòng xe ô tô cao cấp của Đức, nhưng khi nhắc đến Tesla thì chúng ta ngay lập tức nghĩ đến hình ảnh chiếc xe chạy bằng điện cao cấp của tỷ phú nổi tiếng Elon Musk.

Về nhãn hiệu, có hai loại nhãn hiệu phổ biến nhất tại Việt Nam là nhãn hiệu hình và nhãn hiệu chữ.

Xác Định Khả Năng Đăng Ký Bảo Hộ Đối Với Nhãn Hiệu Tại Việt Nam

GOOGLE CHROMECAST

Nhãn hiệu hình

Nhãn hiệu chữ

Về màu sắc, có thể phân biệt nhãn hiệu thành hai loại là nhãn hiệu có màu và nhãn hiệu không màu.

  1. Xác định khả năng đăng ký nhãn hiệu

Nhãn hiệu cần đảm bảo được một số điều kiện chung để có thể được xem là nhãn hiệu và có khả năng được cấp văn bằng bảo hộ cao khi đăng ký phải đảm bảo được các yếu tố sau:

  • Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
  • Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác;
  • Ngoài ra, nhãn hiệu không được trùng hoặc tương tự với các biểu tượng, hình ảnh của quốc kỳ của Việt Nam hay bất kỳ nước nào, không được trùng với tên của các tổ chức nhà nước hay bất kỳ tổ chức nào khi không được cho phép;
  • Đặc biệt, nhãn hiệu đăng ký không được chứa dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ. Ví dụ như việc dùng các cụm từ: made in Japan, made in U.S.A hoặc công nghệ Châu Âu, …

Các doanh nghiệp cũng cần cân nhắc nếu đăng ký các nhãn hiệu ở các khía cạnh sau:

  • Nhãn hiệu có cách phát âm tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký;
  • Nhãn hiệu đăng ký là ngôn ngữ chuyển nghĩa/dịch nghĩa từ ngôn ngữ khác sang tiếng Việt.

Tuy nhiên, các nhãn có dấu hiệu trùng, tương tự như trên chỉ được xem xét ở giai đoạn thẩm định nội dung nhãn hiệu khi chúng có sản phẩm/dịch vụ trùng nhau.

Như vậy, điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thành công trong việc đăng ký nhãn hiệu là việc khẳng định tính độc đáo, mới lạ và đặc trưng của nhãn hiệu đó và nhóm hàng hóa/dịch vụ tương ứng.

Tuy nhiên, sự trùng hợp là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Việc các công ty có cùng ý tưởng, cách thức thể hiện nhãn hiệu cũng không hiếm gặp. Do đó, trước khi tiến hành đăng ký nhãn hiệu, nhãn hiệu của doanh nghiệp cần được kiểm tra trên hê thống cơ sở dữ liệu về sở hữu trí tuệ, nhằm xác định ngay từ ban đầu khả năng thành công cho việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hoặc có phương án điều chỉnh nhãn hiệu cho phù hợp.

  1. Quy định và một số thủ tục về cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

Hiện nay, Cục Sở hữu trí tuệ (Cục SHTT) trực thuộc Bộ Khoa học Công nghệ là Cơ quan thẩm định khả năng đăng ký nhãn hiệu và cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

Để một nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam, cần phải thực hiện quá trình thẩm định nhãn hiệu bao gồm thẩm định hình thức và thẩm định nội dung. Giai đoạn này thường mất từ 12 – 24 tháng, tùy thuộc vào tình trạng xử lý đơn của Cục SHTT.

Căn cứ vào kết quả thẩm định nội dung, Cục SHTT sẽ ra quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu đăng ký. Tại giai đoạn này, nếu nhận được Thông báo dự định cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, chủ đơn/người nộp đơn cần lưu ý thời hạn nộp tiền lệ phí cho Cục SHTT kịp thời hạn để được cấp văn bằng bảo hộ, quá thời gian cho phép nói trên, Cục sẽ không cấp văn bằng bảo hộ cho chủ đơn.

Về nội dung văn bằng bảo hộ, văn bằng ghi nhận chủ sở hữu nhãn hiệu, còn gọi là chủ văn bằng bảo hộ, đối tượng bảo hộ là nhãn hiệu, phạm vi bảo hộ là nhóm sản phẩm/dịch vụ mà nhãn hiệu đăng ký và thời hạn bảo hộ. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.

Nhãn hiệu là tài sản quan trọng và là hình ảnh gắn liền đối với sản phẩm, dịch vụ của mỗi doanh nghiệp vì vậy ngay tại thời điểm có ý tưởng cho nhãn hiệu thì doanh nghiệp hãy nghĩ ngay đến việc nhãn hiệu mình đang tạo ra có đủ điều kiện để được bảo hộ hay không. Điều này để tránh đi việc nhãn hiệu đã được đưa vào sử dụng trong một khoảng thời gian dài và dần dần đã trở thành hình ảnh nhận diện của doanh nghiệp trên thị trường, nhưng sau đó buộc phải thay đổi hoặc điều chỉnh làm khác đi hình ảnh nhãn hiệu ban đầu xuất phát từ yêu cầu bảo hộ hoặc từ yêu cầu chính đáng của bên thứ ba.

Doanh nghiệp cũng cần biết rằng để đánh giá khả năng đăng ký của một nhãn hiệu, Cục SHTT phải cân nhắc rất nhiều yếu tố cũng như dựa trên căn cứ quy định pháp luật, vì vậy để tăng khả năng đăng ký nhãn hiệu thành công, các doanh nghiệp nên sớm chuẩn bị cho việc đăng ký và lưu ý các vấn đề kể trên.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.