Được viết bởi Công ty luật PLF

Người sử dụng lao động và người lao động phải chịu những hậu quả pháp lý khác nhau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp lạm dụng vị trí này nhằm trục lợi hoặc gây khó khăn cho doanh nghiệp khác thì cần phải bị xử lý theo pháp luật.

Theo Điều 11 Luật Cạnh tranh, vị trí thống lĩnh trên thị trường được xác định dựa trên thị phần hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.

Một nhóm doanh nghiệp cũng có thể được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau: Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.

Khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được xác định trên cơ sở xem xét các yếu tố sau (Điều 22 Nghị định 116/2005/NĐ-CP):

  • Năng lực tài chính của doanh nghiệp;
  • Năng lực tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp;
  • Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp;
  • Năng lực tài chính của công ty mẹ;
  • Năng lực công nghệ;
  • Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
  • Quy mô của mạng lưới phân phối.

Tất cả các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường đều bị cấm theo Điều 13 của Luật Cạnh tranh, bao gồm:

  • Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;
  • Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
  • Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
  • Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;
  • Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
  • Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.

Trên cơ sở xem xét các yếu tố như “mức độ gây hạn chế cạnh tranh do hành vi vi phạm gây ra, mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, khả năng gây hạn chế cạnh tranh của các đối tượng vi phạm, thời gian thực hiện hành vi vi phạm, khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng” (Điều 7, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP), doanh nghiệp vi phạm quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể phải chịu một trong các hình thức xử lý vi phạm sau:

  • Phạt tiền với mức phạt tối đa 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc từng doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi phạm.
  • Phạt bổ sung với các hình thức như tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm,..

Các biện pháp khắc phục hậu quả: buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh liên quan, buộc cơ cấu lại doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường…

Liên hệ cùng PLF để được tư vấn