lĩnh vực thương mại

Xử Lý Vấn Đề Chậm Thanh Toán Trong Giai Đoạn Covid-19

Dealing With Delays In Payments During Covid-19 Pandemic

“Trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 đang có nhiều diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp vẫn cố gắng duy trì hoạt động sản xuất và cung cấp dịch vụ để đảm bảo sự tồn tại của mình. Tuy nhiên, sự khó khăn do dịch bệnh mang lại vẫn ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình sản xuất, kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến rất nhiều vấn đề phát sinh. Trong đó, vấn đề chậm thanh toán trong kinh doanh thương mại liên tục nổi lên giữa các doanh nghiệp trong các giao dịch trong nước lẫn các giao dịch có yếu tố nước ngoài. Bài viết này bàn về vấn đề chậm thanh toán và đưa ra một số phương án nhằm xử lý vấn đề này trong phạm vi áp dụng của Luật Thương mại số 36/2005/QH11 (“Luật thương mại”).“

THẾ NÀO LÀ CHẬM THANH TOÁN

Trước hết, một bên được coi là chậm thanh toán khi bên đó đã không thể thực hiện thanh toán đúng theo tiến độ, thanh toán không đầy đủ hoặc không thanh toán như các bên thỏa thuận. Với việc nghĩa vụ thanh toán là một trong những nghĩa vụ quan trọng giúp hình thành nên giao dịch thương mại, vậy nên nếu một bên có hành vi chậm thanh toán thì sẽ được coi là vi phạm hợp đồng theo quy định của Luật thương mại:

Điều 3. Giải thích từ ngữ

[…] 12. Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này.”

CÁC CHẾ TÀI CÓ THỂ ÁP DỤNG KHI CÓ HÀNH VI CHẬM THANH TOÁN

Theo đó, Luật thương mại cũng quy định những chế tài sau đây mà các bên có thể áp dụng trong trường hợp một trong các bên có hành vi vi phạm hợp đồng, cụ thể là:

  1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng

Đây được xem là phương án cơ bản nhất khi một bên nhận thấy bên còn lại không thực hiện nghĩa vụ của mình, theo đó, bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.

Trong trường hợp chậm thanh toán, bên bị vi phạm sẽ yêu cầu bên vi phạm thực hiện việc thanh toán đồng thời có thể gia hạn thêm một khoảng thời gian hợp lý để bên vi phạm khắc phục.

  1. Phạt vi phạm

Trường hợp các bên có thỏa thuận hành vi chậm thanh toán là một hành vi bị phạt vi phạm theo hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt vi phạm theo quy định tại hợp đồng. Tuy nhiên, mức phạt vi phạm sẽ không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, cụ thể là không quá 8% phần tiền bị chậm thanh toán.

  1. Buộc bồi thường thiệt hại

Bên cạnh chế tài phạt vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm cũng có thể yêu cầu bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi chậm thanh toán gây ra cho bên bị vi phạm. Theo đó, giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vi phạm phát sinh khi có đủ các yếu tố sau:

  • Có hành vi vi phạm hợp đồng – tức hành vi chậm thanh toán;
  • Có thiệt hại thực tế; và
  • Hành vi chậm thanh toán là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại – quan hệ nhân quả.

Theo đó, bên bị vi phạm phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

  1. Tạm ngừng/đình chỉ thực hiện hợp đồng

Bên bị vi phạm có thể lựa chọn tạm ngừng/đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu các bên đã thoả thuận là hành vi chậm thanh toán là điều kiện để tạm ngừng/đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Ngoài ra, Luật thương mại cũng quy định một bên có thể tạm ngừng/đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu bên còn lại vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng. Tuy nhiên, việc đánh giá hành vi chậm thanh toán có phải là vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng hay không thì cần xét đến khái niệm “vi phạm cơ bản” được quy định theo Luật thương mại:

“Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.”

Có thể thấy, yếu tố thiệt hại đến mức không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng rất khó xác định, vì việc chậm thanh toán của một bên chưa hẳn đã gây thiệt hại cho bên còn lại tới mức không đạt được mục đích của việc giao kết. Do đó, trên thực tế, để có thể tạm ngừng/đình chỉ thực hiện hợp đồng, hành vi chậm thanh toán nên được quy định trong hợp đồng giữa các bên là điều kiện để tạm ngừng/đình chỉ thực hiện hợp đồng.

  1. Yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán

Bên cạnh các chế tài nêu trên, Luật thương mại còn quy định bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu bên vi phạm trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó. Theo đó, các bên có thể thỏa thuận về lãi suất nợ quá hạn trong trường hợp chậm thanh toán. Nếu như không có thỏa thuận về lãi suất thì sẽ áp dụng lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, hoặc một mức khác nếu pháp luật có quy định khác.

XỬ LÝ HÀNH VI CHẬM THANH TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN COVID-19

Có thể thấy, khi xảy ra hành vi chậm thanh toán, bên bị vi phạm có rất nhiều phương án để xử lý nếu như trong quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng, các bên đã có quy định rõ ràng, cụ thể cách thức xử lý nếu bên còn lại có hành vi chậm thanh toán.

Tuy nhiên, về thực tế, không phải hợp đồng nào cũng có thể quy định đầy đủ các nội dung chế tài đã nêu ở phần trên, vì nếu quy định quá chặt chẽ và nhiều ràng buộc, các bên giao kết cũng sẽ cảm thấy khó khăn trong việc đạt được mục đích ban đầu khi đề nghị giao kết.

Trong giai đoạn dịch bệnh hiện tại, khi xảy ra vấn đề chậm thanh toán, nếu mức độ vi phạm chưa quá nghiêm trọng và do bên có nghĩa vụ thanh toán đang gặp các khó khăn về tài chính, bên bị vi phạm nên lựa chọn hình thức buộc thực hiện đúng hợp đồng và giãn tiến độ thanh toán thay vì áp dụng các chế tài quá nặng, làm ảnh hưởng đến giao dịch giữa các bên tại thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai.

Bên cạnh đó, các bên cũng nên quy định trong hợp đồng việc chậm thanh toán có thể là căn cứ để tạm dừng/đình chỉ thực hiện hợp đồng để hạn chế thiệt hại cho bên bị vi phạm trong trường hợp bên còn lại không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Đối với các hợp đồng có nhiều giai đoạn, điều này cũng giới hạn lại phạm vi vi phạm của bên chậm thanh toán vì nếu như bên bị vi phạm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng không nhận được thanh toán từ bên vi phạm, thì số tiền thanh toán cũng tăng lên mà bên vi phạm vẫn không thể trả được.

KẾT LUẬN

Với việc dịch bệnh Covid-19 vẫn đang có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sẽ rất khó để các bên trong giao dịch luôn luôn đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của mình.

Vì vậy, để hạn chế rủi ro, các doanh nghiệp cần chú trọng vào nội dung hợp đồng ký kết trong giai đoạn này. Các hợp đồng cần quy định rõ các cách thức xử lý, đặc biệt là đối với các nghĩa vụ quan trọng như thanh toán và các vấn đề phát sinh do vi phạm nghĩa vụ đó. Bên cạnh đó, các bên cũng cần có những trao đổi và thông báo kịp thời nhằm giảm thiểu hậu quả nếu có hành vi vi phạm.

Thời gian viết bài: Ngày 18/06/2021

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Liên Hệ PLF để được tư vấn