Skip to content

Doing Business in Vietnam | Top Law Firm in Vietnam

4 rủi ro tiềm ẩn liên quan đến hợp đồng vay vốn theo Bộ luật Dân sự 2015

Plf 4 Rui Ro Tiem An Lien Quan Den Hop Dong Vay Von Theo Bo Luat Dan Su 2015

Về cơ bản, pháp luật dân sự tôn trọng sự tự do giữa các bên trong Hợp đồng, tuy nhiên các bên giao kết cần phải tuân thủ những quy định cơ bản của pháp luật. Theo đó, mặc dù việc vay vốn không phải là hoạt động diễn ra thường xuyên của các doanh nghiệp, tuy nhiên nó tiềm ẩn nhiều rủi ro về pháp lý và thương mại cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động vay vốn trên. Bài viết này sẽ liệt kê 4 rủi ro tiềm ẩn liên quan đến hợp đồng vay vốn theo Bộ luật Dân sự 2015.

1. Không có lãi suất bắt buộc

Một số doanh nghiệp quan niệm sai lầm rằng Hợp đồng vay vốn yêu cầu phải có lãi suất, dẫn đến có tâm lý không muốn vay vốn từ đối tác, khách hàng. Lãi suất hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên khi vay vốn. Theo pháp luật Việt Nam, các bên có thể thỏa thuận lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi. Nếu các bên đồng ý rằng tiền lãi sẽ phải trả nhưng không chỉ định lãi suất hoặc nếu có tranh chấp về lãi suất thì sẽ có mức lãi suất mặc định là 10% hàng năm cho đến khi tranh chấp được giải quyết hoặc khoản vay được hoàn trả. Mức lãi suất này có thể thay đổi tại từng thời điểm theo quy định của pháp luật và chính sách của các ngân hàng. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp được vay không lãi suất vẫn là hoàn toàn hợp pháp.

2. Hạn mức tối đa của lãi suất

Trong trường hợp có quy định về lãi suất trong Hợp đồng vay thì mức lãi suất đó được pháp luật giới hạn. Lãi suất tối đa được quy định như sau:

  • Theo Bộ luật Dân sự 2005, lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại hình cho vay tương ứng. Việc xác định trần lãi suất khá phức tạp đối với doanh nghiệp, dẫn đến lãi suất các bên thỏa thuận thường quá cao hoặc quá thấp. Vào tháng 3 năm 2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các quyết định có thể giúp giải quyết một số bất ổn có thể giúp thiết lập mức trần chính xác.
  • Quyết định số 313/QD-NHNN nêu rõ lãi suất tái cấp vốn được duy trì ở mức 6%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,5%/năm xuống 3,5%/năm; lãi suất qua đêm đối với thanh toán điện tử liên ngân hàng và lãi suất cho vay tài trợ số dư ngắn hạn trong giao dịch thanh toán bù trừ giữa NHNN và các tổ chức tín dụng được điều chỉnh từ 7,0% xuống 6,0%/năm.
  • Quyết định 314/QĐ-NHNN trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với người đi vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đối với một số ngành, lĩnh vực ưu tiên theo Thông tư Thông tư 39/2016/TT-NHNN đánh dấu việc giảm trần lãi suất từ 5,5%/năm xuống 5,0%/năm. Trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ thuộc các lĩnh vực, lĩnh vực ưu tiên do Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô cung cấp cũng giảm từ 6,5%/năm đến 6,0% mỗi năm.
  • Căn cứ theo Bộ luật Dân sự 2015, mức lãi suất của khoản vay được quy định trong Hợp đồng vay vốn không được vượt quá 20%/năm. Về mặt tổng thể, việc quy định mức lãi suất tối đa của Bộ luật Dân sự 2015 cao hơn mức lãi suất được quy định trong những quy định trước đây. Thế nên, dựa trên khả năng tài chính và độ tin tưởng giữa các bên giao kết với nhau, những doanh nghiệp có thể cẩn thận cân nhắc về mức lãi suất được quy định trong Hợp đồng vay vốn

Quy định mới cũng vô hiệu hóa các khoản vay vượt quá 20%/năm, áp dụng lãi suất theo quy định của Pháp luật.

3. Lãi suất chậm trả là bắt buộc

Khi doanh nghiệp cho vay không lấy lãi chủ yếu với mục đích hỗ trợ, giúp đỡ người vay nên hiếm khi các bên thỏa thuận được việc trả lãi do chậm trả khi đến hạn. Tuy nhiên, các bên cần lưu ý, kể cả trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật vẫn quy định về số tiền chậm trả trong trường hợp vay không có lãi:

  • Căn cứ theo Bộ luật Dân sự 2005, nếu không có thỏa thuận, bên vay sẽ không phải trả lãi chậm trả.
  • Căn cứ theo Bộ luật Dân sự 2015, nếu bên vay không trả hoặc trả không đủ số tiền vay khi đến hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu trả lãi với mức lãi suất 10% (được xác định bằng 50% giới hạn lãi suất). Cần phải nhấn mạnh rằng đây chỉ là quyền chứ không phải nghĩa vụ và người cho vay không có nghĩa vụ phải thực thi.

4. Áp dụng lãi chậm trả theo sự thỏa thuận

Đối với trường hợp doanh nghiệp cho vay có lãi, quy định thay đổi theo hướng có lợi hơn cho bên cho vay như sau:

  • Căn cứ theo Bộ luật Dân sự 2005, mặc dù các bên có thỏa thuận về lãi suất chậm trả nhưng phải áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, khi đến hạn trả mà bên vay không trả hoặc trả không đủ thì bên vay phải trả lãi theo mức lãi suất ghi trong thỏa thuận, không phải là lãi suất cơ bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015:
  • Về số nợ gốc chưa trả theo thỏa thuận trong Hợp đồng tương ứng với thời hạn cho vay; trường hợp chậm trả phải trả lãi suất 10% (được xác định bằng 50% hạn mức lãi suất).
  • Nếu không có thỏa thuận thì tiền lãi đối với phần nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất theo Hợp đồng tương ứng với thời hạn chậm trả.

Đáng chú ý, số tiền lãi mà bên vay phải trả theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 cao hơn so với tiền lãi quy định cũ do lãi suất thỏa thuận giữa các bên thường cao hơn lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, để bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh bằng phương thức vay vốn. Các doanh nghiệp cần lưu ý một số nội dung mà chúng tôi đã đề cập để tranh những rủi ro trong quá trình thực hiện giao dịch này.

Bài viết liên quan

Discover more from Doing Business in Vietnam | Top Law Firm in Vietnam

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading

Đặt lịch hẹn

Booking Tiếng Việt

MM slash DD slash YYYY
Thời gian
:

Giờ làm việc: Thứ hai - Thứ sáu, 08:00 AM - 05:30 PM