Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng kinh doanh thương mại là là hai chế tài khác nhau được pháp luật cho phép áp dụng với các điều kiện tương ứng. Vì vậy, các doanh nghiệp cần hiểu rõ sự khác nhau này để đảm bảo quyền lợi của mình.
Hợp đồng kinh doanh thương mại là giao dịch dân sự giữa các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc giữa cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh, thương mại với cá nhân, tổ chức khác. Như vậy, có thể thấy rõ một bên trong hợp đồng kinh doanh thương mại hướng đến mục tiêu lợi nhuận.
1. Phạt vi phạm hợp đồng
Chế tài này được áp dụng khi các bên có thỏa thuận bằng một điều khoản cụ thể trong hợp đồng (Điều 300 Luật Thương mại 2005). Theo đó, khi một bên vi phạm nghĩa vụ của mình sẽ chịu phạt một khoản tiền và thanh toán khoản tiền phạt đó cho bên bị vi phạm.
Về điều kiện, mức phạt vi phạm, phương thức, thời điểm thanh toán khoản tiền phạt, các bên có quyền thoả thuận chi tiết trong hợp đồng.
Tuy nhiên, Luật thương mại 2005 đưa ra mức phạt vi phạm tối đa không được vượt quá 08% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp các bên giao kết hợp đồng cung cấp dịch vụ giám định hoặc hợp đồng xây dựng. Quy định này nhằm giới hạn việc lạm dụng áp đặt chế tài này lên bên yếu thế hoặc sử dụng phạt vi phạm như là một phương thức để hợp thức hoá dòng tiền.
Nếu các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm thấp hơn mức pháp luật cho phép nêu trên thì sẽ áp dụng mức phạt do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên chỉ quy định trong hợp đồng về việc phạt vi phạm mà không nêu mức phạt cụ thể thì khi phát sinh việc vi phạm, các bên phải thoả thuận lại mức phạt vi phạm. Nếu mức phạt vi phạm vượt quá quy định pháp luật thì khi có tranh chấp xảy ra, mức phạt 08% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm sẽ được áp dụng.
Ví dụ: Hai doanh nghiệp A và B ký kết hợp đồng gia công quần áo có giá trị là 5 tỷ đồng. Hai bên thoả thuận A phải gia công khối lượng hàng hoá đã thoả thuận trong vòng 03 tháng. Nếu không hoàn thành nghĩa vụ A sẽ chịu phạt do vi phạm nghĩa vụ này. Đến hạn A mới gia công được một nữa khối lượng hàng hoá, tương ứng với 2,5 tỷ đồng.
- Trường hợp 1: Hợp đồng quy định nếu bên nào vi phạm nghĩa vụ của mình sẽ bị phạt 20% giá trị hợp đồng, tương đương 1 tỷ đồng.
Trong trường hợp này, A chỉ chịu phạt 8% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm tức 8% của 2,5 tỷ. Nếu B yêu cầu A chịu phạt 1 tỷ đồng, A có quyền từ chối. - Trường hợp 2: Hợp đồng chỉ quy định nếu bên nào vi phạm sẽ bị phạt theo mức phạt vi phạm mà pháp luật quy định.
Theo đó, B được quyền yêu cầu A thanh toán số tiền phạt là 8% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm tức 8% của 2,5 tỷ. - Trường hợp 3: Hợp đồng quy định nếu bên nào vi phạm sẽ phạt 1% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
Khi tranh chấp xảy ra, B chỉ được yêu cầu khoản tiền phạt vi phạm là 1% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm tương đương với 25 triệu đồng từ A.
2. Bồi thường thiệt hại
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại vẫn phát sinh dù không có thỏa thuận giữa các bên và khi hội tụ đủ các điều kiện sau:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng, và
- Có thiệt hại thực tế, và
- Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Đối với chế tài bồi thường thiệt hại, pháp luật không giới hạn mức tối đa giá trị thiệt hại mà bên vi phạm phải bồi thường. Tuy nhiên, các bên cần lưu ý chỉ:
- những tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do hành vi vi phạm của bên còn lại gây ra và
- khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm mới được yêu cầu bồi thường.
Hơn nữa, bên bị vi phạm và bị thiệt hại phải chứng minh được các thiệt hại thực tế, trực tiếp mà mình phải chịu do hành vi vi phạm của bên còn lại hay các khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm của bên kia.
Điều này đồng nghĩa các tổn thất gián tiếp hay trực tiếp nhưng không thể chứng minh không phải là đối tượng để yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Ngoài ra, dựa vào nguyên tắc tự do thoả thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội, pháp luật cũng quy định các trường hợp được miễn trừ trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng nếu các bên có thoả thuận hoặc khi xảy ra sự kiện bất khả kháng; hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Như vậy, trong hợp đồng kinh doanh thương mại, quy định cụ thể về chế tài phạt vi phạm hợp đồng là yêu cầu bắt buộc để áp dụng. Trong khi đó, bồi thường thiệt hại chỉ yêu cầu về loại thiệt hại và nghĩa vụ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm và thiệt hại xảy ra. Ngoài ra, pháp luật cho phép các bên được áp dụng cả hai loại chế tài này để đảm bảo cho nghĩa vụ thực hiện hợp đồng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm. Do đó, các doanh nghiệp có thể áp dụng linh hoạt các chế tài này để duy trì quyền lợi của mình và đảm bảo đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.
