Hình thức ủy quyền cho người nước ngoài do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định thì việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.
Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật về ủy quyền chưa có quy định cụ thể về việc ủy quyền cho người nước ngoài. Nhìn chung, việc ủy quyền cho người nước ngoài được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự thông qua chế định về ủy quyền.
1. Đối tượng người đại diện theo ủy quyền được ghi nhận tại Điều 138 của Bộ luật Dân sự 2015
- Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
- Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
Như vậy, với cách ghi nhận của quy định nêu trên, đối tượng là người đại diện theo ủy quyền sẽ bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài.
2. Quyền và nghĩa vụ của người được ủy quyền
Mặc dù không trực tiếp đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người được ủy quyền là người nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể, ủy quyền cho người nước ngoài vẫn được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự và một số văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đến các hoạt động trong phạm vi ủy quyền như: phạm vi, hình thức ủy quyền; hậu quả của giao dịch thực hiện vượt quá phạm vi được ủy quyền; chấm dứt ủy quyền.
Khi xác lập quan hệ ủy quyền, người nước ngoài được ủy quyền có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự trong phạm vi được ủy quyền. Tuy nhiên, họ không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Uỷ quyền cho người nước ngoài
Tương tự trường hợp ủy quyền cho người Việt Nam, người được ủy quyền là người nước ngoài chấm dứt công việc khi thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền đã hoàn thành; người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền, hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền; người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chế bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
Ngoài ra, căn cứ vào Điều 134 của Bộ luật dân sự 2015, người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện. Theo Điều 673 của Bộ luật dân sự, người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Như vậy, để người nước ngoài làm đại diện theo ủy quyền thì người nước ngoài còn phải đảm bảo năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam có quy định một số hoạt động mà người nước ngoài không được phép thực hiện mặc dù có trong phạm vi được ủy quyền như: mua nhà ở (trừ trường hợp căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại), hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất ở.
Vì vậy, khi thực hiện việc ủy quyền cho người nước ngoài, ngoài việc xem xét năng lực hành vi dân sự cũng cần xác định tính chất giao dịch để việc ủy quyền không trái với quy định của pháp luật và giao dịch trở nên vô hiệu.