Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức Hợp đồng lao động. Vì lí do nào đó họ ngưng việc, nhưng họ vẫn có quyền hưởng quyền lợi hợp pháp, cũng như bồi thường nếu vi phạm hợp đồng.
Hiện nay, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động. Và một trong các đối tượng áp dụng quy định của Bộ luật Lao động, theo khoản 3 Điều 2 Bộ luật này là “Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”.
1. Việc tham gia bảo hiểm xã hội
Mặt khác, một điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thay thế cho Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 đó là đề cập người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ và được hướng dẫn bởi Nghị định 143/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội và Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/12/2018.
Vì thế, người nước ngoài lao động tại các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia bảo hiểm và có các nghĩa vụ và quyền lợi trong việc tham gia bảo hiểm y tế.
2. Trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc
Như vậy, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận với người sử dụng lao động theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.
3. Thời gian tính trợ cấp thôi việc
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
Tóm lại, đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam nếu làm việc cho doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên và chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật vẫn sẽ được doanh nghiệp chi trả trợ cấp thôi việc.