Hiện nay, Việt Nam đang trở thành một trong những điểm đến đầy tiềm năng cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Với tốc độ phát triển nhanh chóng của internet và số lượng người dùng internet đang tăng đột biến, nhu cầu về các trung tâm dữ liệu tại Việt Nam cũng ngày càng tăng cao.

Với mục đích phục vụ nhu cầu này, các trung tâm dữ liệu internet mới sẽ được thành lập tại Việt Nam. Với sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, các trung tâm dữ liệu này sẽ được trang bị những thiết bị và công nghệ hiện đại nhất để đảm bảo an toàn và ổn định cho dữ liệu của khách hàng. Sự thành lập trung tâm dữ liệu internet tại Việt Nam sẽ đem lại nhiều lợi ích cho cả người dùng và ngành công nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam. Bên cạnh đó, những trung tâm dữ liệu hiện đại sẽ là nền tảng quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và cùng với đó sẽ là động lực thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Bài viết này sẽ cung cấp các điều kiện tổng quan để nhà đầu tư nước ngoài tiến hành kinh doanh trong việc đầu tư dịch vụ trung tâm dữ liệu internet (IDC) tại Việt Nam.

1. Điều kiện tiếp cận thị trường

Hoạt động của trung tâm dữ liệu được cấu thành bởi nhiều dịch vụ khách nhau, các dịch vụ điển hình có thể kể đến như xử lý dữ liệu (CPC 843), lưu trữ dữ liệu và dịch vụ cho thuê máy tính theo thời gian (CPC 84330). Theo Cam kết WTO thì Việt Nam không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đối với các dịch vụ này, điều này cũng được cam kết tương tự tại Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực giữa ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand (RCEP).

Với cam kết này của Việt Nam, các nhà đầu tư có thể:

  • Thành lập doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài; hoặc
  • Mua lại 100% phần vốn góp/cổ phần đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

2. Phạm vi hoạt động và các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam

Kinh doanh dịch vụ trung tâm dữ liệu (CPC 130) thuộc danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định chi tiết về phương thức cung cấp dịch vụ và hoạt động của trung tâm dữ liệu.

Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 03/2013/TT-BTTTT, trung tâm dữ liệu được định nghĩa là một công trình xây dựng, bao gồm hạ tầng kỹ thuật (nhà trạm, hệ thống cáp) và hệ thống máy tính cùng các thiết bị phụ trợ được lắp đặt vào đó để lưu trữ, trao đổi và quản lý tập trung dữ liệu của một hay nhiều tổ chức, cá nhân.

Trước khi đưa vào vận hành, các trung tâm dữ liệu phải áp dụng các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật tối thiểu như sau:

  • Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9250:2021 (hoặc tiêu chuẩn ANSI/TIA-942-B:2017), hoặc tiêu chuẩn Tier của Uptime Institute;
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chống sét cho các trạm viễn thông và mạng cáp ngoại vi viễn thông, ký hiệu QCVN 32:2020/BTTTT;
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếp đất cho các trạm viễn thông, ký hiệu QCVN 9:2016/BTTTT;
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn cháy cho nhà và công trình, ký hiệu QCVN 06:2021/BXD.

Theo dự thảo Luật Viễn thông, dịch vụ trung tâm dữ liệu gồm các dịch vụ sau:

  • Dịch vụ cho thuê chỗ tại trung tâm dữ liệu là dịch vụ cung cấp không gian cho phép khách hàng tự thiết kế, lắp đặt máy chủ và/hoặc các thiết bị lưu trữ khác;
  • Dịch vụ cho thuê máy chủ là dịch vụ cung cấp cho khách hàng máy chủ cùng các thiết bị và cơ sở hạ tầng thông tin sẵn có của trung tâm dữ liệu để sử dụng riêng;
  • Dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ dữ liệu là dịch vụ cung cấp không gian lưu trữ cho tổ chức, cá nhân.

Cũng theo dự thảo Luật này thì, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trung tâm dữ liệu phải tuân thủ tất cả các điều kiện sau:

  • Tuân thủ theo các quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong quá trình thiết kế, xây dựng và vận hành, khai thác trung tâm dữ liệu, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin mạng, bảo vệ dữ liệu của người sử dụng dịch vụ, đồng thời, phải phù hợp với Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông.
  • Công bố công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến doanh nghiệp, mức độ tuân thủ các quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định.
  • Khi ký kết Thỏa thuận cung cấp dịch vụ với người sử dụng phải bảo đảm tối thiểu các nội dung theo quy định.
  • Không được thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, hành vi chèn ép, ngăn chặn các doanh nghiệp khác trong hoạt động kinh doanh.
  • Không được thực hiện hành vi hạn chế hoặc không cung cấp dịch vụ cho người sử dụng vì các lý do không chính đáng.

Trước khi trung tâm dữ liệu đi vào hoạt động thì doanh nghiệp được yêu cầu phải thực hiện thủ tục cấp phép theo hình thức đăng ký trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông, đây là một yêu cầu mới theo dự thảo Luật Viễn thông.

3. Các bước thành lập công ty / dự án

Việc thành lập trung tâm dữ liệu internet thường được thực hiện qua các bước như sau:

Bước 1: Lựa chọn địa điểm và đánh giá các ưu đãi đầu tư (nếu có)

Bước 2: Ký kết biên bản ghi nhớ đối với địa điểm thuê

Bước 3: Đánh giá sơ bộ tác động môi trường (nếu có)

Bước 4: Đăng ký thành lập dự án/công ty mới

Bước 5: Ký kết hợp đồng thuê nơi đặt dự án

Bước 6: Xin giấy phép xây dựng

Bước 7: Thực hiện thủ tục công bố về sự phù hợp của trung tâm dữ liệu với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang đề trình dự thảo Luật Viễn thông mới lên Quốc hội trong đó quy định các hành lang pháp lý để thống nhất các quy định điều chỉnh cho hoạt động kinh doanh này. Do đó, sẽ có những thay đổi và điều chỉnh đối với hoạt động này trong thời gian sắp tới.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.

Share: