Luật Kinh doanh bất động sản 2014 (Luật KDBĐS) đã có quy định chi tiết hơn về phạm vi hoạt động kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm chưa được hoàn thiện.

Bất động sản là một lĩnh vực thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài với tiềm năng phát triển và lợi nhuận trong tương lai. Ngoài ra, đứng trước tình hình dịch chuyển các cơ sở sản xuất từ các quốc gia khác (điển như là từ Trung Quốc) sang Việt Nam, giúp cho thị trường bất động sản công nghiệp gia tăng mạnh mẽ, kèm theo nhu cầu xây dựng các khu nhà ở, dịch vụ dành cho công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp có cơ hội phát triển.

1. Quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài 

Theo Luật KDBĐS, kinh doanh bất động sản là việc “việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi”.

Nếu như trước ngày 01/07/2015, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được tham gia vào hai phân khúc của kinh doanh bất động sản tại Việt Nam là: đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua và đầu tư cải tạo đất và các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia phê chuẩn hoặc ký kết có quy định khác. Còn các phân khúc khác trong kinh doanh bất động sản thì nhà đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được tham gia. Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài đã không được đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, từ ngày 01/07/2015, phạm vi được phép hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài đã được mở rộng.

2. Hình thức kinh doanh bất động sản của người Việt Nam định cư ở nước ngoài 

Cụ thể, theo khoản 2 Điều 11 của Luật KDBĐS, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được kinh doanh bất động sản theo những hình thức dưới đây:

  • thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại;
  • được đầu tư xây dựng nhà ở trên đất được Nhà nước cho thuê để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;
  • đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng trên đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để cho thuê theo đúng mục đích sử dụng đất;
  • nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;
  • đầu tư xây dựng nhà ở trên đất được Nhà nước giao để bán, cho thuê, cho thuê mua; hoặc
  • được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng đối với đất thuê, đất nhận chuyển nhượng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

3. Hình thức kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 

Căn cứ khoản 3 Điều 11 của Luật KDBĐS quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bất động sản trong các trường hợp sau:

  • thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại;
  • được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất được Nhà nước cho thuê;
  • nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;
  • được đầu tư xây dựng nhà ở đế bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất được Nhà nước giao; hoặc
  • được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất đối với đất thuê trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

4. Hạn chế phạm vi kinh doanh bất động sản

  • Theo quy định tại Điều 11 của Luật KDBĐS, phạm vi kinh doanh bất động sản dành cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với người Việt Nam định cư ở nước ngoài có phần bị hạn chế hơn.
  • Theo đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng trên đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để cho thuê. Chỉ được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được phép nhận chuyển nhượng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đang trên đà hội nhập quốc tế, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài, đòi hỏi các quy định pháp luật về điều kiện hoạt động bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng cần từng bước hoàn thiện, phát triển phù hợp với xu hướng mở rộng hành lang pháp lý để các chủ thể kinh doanh khác nhau có thể gia nhập thị trường.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.

Share: