Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thanh toán hoặc nhận thanh toán giá chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp của một công ty ở Việt Nam phải tuân thủ theo quy định của pháp lệnh ngoại hối và một số thủ tục tại ngân hàng thương mại nơi mở tải khoản nhận thanh toán.

Giao dịch chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp trong doanh nghiệp Việt Nam (sau đây gọi chung là “Giao Dịch Chuyển Nhượng Vốn”) với sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến. Để đảm bảo việc thực hiện giao dịch trên tuân thủ theo quy định pháp luật Việt Nam là một vấn đề không đơn giản, bên cạnh một số vấn đề chung cần được các bên lưu ý như:

  • Giao dịch chuyền nhượng vốn phải được thực hiện thông qua chuyển khoản ngân hàng;
  • Thời điểm thực hiện giao dịch phải tuân thủ đúng các thoả thuận được các bên thống nhất và ghi nhận trong hợp đồng chuyển nhượng vốn.

Một số yếu tố quan trọng khác cũng cần được xem xét vì chúng ảnh hưởng đến trực tiếp khả năng thực hiện của giao dịch. Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến một số yếu tố mà các bên cần lưu ý khi thực hiện viêc thanh toán trong giao dịch chuyển nhượng vốn có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài.

1. Tài khoản ngân hàng được sử dụng để thực hiện giao dịch chuyển nhượng vốn

Như đã đề cập ở trên, giao dịch chuyển nhượng vốn phải được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng. Tuy nhiên, để xác định đúng loại tài khoản ngân hàng nào được phép sử dụng trong trường hợp này còn phải tuỳ thuộc vào nguồn vốn của công ty mục tiêu (có phải là công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay không) và tình trạng cư trú thuế của các bên tham gia giao dịch, cụ thể:

1.1 Công ty mục tiêu có phải là Công Ty Có Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài hay không?

Để xác định công ty mục tiêu có thuộc trường hợp Công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được, doanh nghiệp có thể tham khảo quy định tại Điều 3.2 của Thông tư 06/2019/TT-NHNN. Hai loại tài khoản ngân hàng được xem xét sử dụng phải được mở tại một ngân hàng được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối tại Việt Nam gồm:

  • Tài Khoản Vốn Đầu Tư Trực Tiếp (“DICA”): Là tài khoản của công ty mục tiêu. DICA để thực hiện các giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam gồm Việc thành lập hoặc mua cổ phần/phần vốn góp của công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Việc mở và sử dụng DICA đã được quy định cụ thể tại Thông tư 06/2019/TT-NHNN.
  • Tài Khoản Vốn Đầu Tư Gián Tiếp (“IICA”): Là tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam do bên mua (trong trường hợp là nhà đầu tư nước ngoài) mở. IICA để thực hiện các giao dịch thu chi được phép liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Việc mở và sử dụng DICA đã được quy định cụ thể tại Thông tư 05/2014/TT-NHNN.

1.2 Tình trạng cư trú thuế của các bên tham gia giao dịch

Theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước trong Thông tư 06/2019/TT-NHNN, trong trường hợp công ty mục tiêu thuộc đối tượng công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thì tình trạng cư trú thuế của các chủ thể tham gia giao dịch chuyển nhượng vốn sẽ ảnh hưởng đến việc xác định cụ thể tài khoản ngân hàng nào sẽ được sử dụng cụ thể như sau:

  • Giao dịch chuyển nhượng vốn/cổ phần được thực hiện giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, cụ thể là giữa nhà đầu tư nước ngoài và cá nhân/tổ chức Việt Nam:
    Theo quy định, giao dịch này phải được thực hiện thông qua DICA của công ty mục tiêu.
    Theo đó, DICA sẽ là tài khoản trung gian để nhận tiền thanh toán giá chuyển nhượng từ Bên Mua và chuyển số tiền này cho Bên Bán.
  • Giao dịch chuyển nhượng vốn/cổ phần được thực hiện giữa các cá nhân không cư trú, cụ thể bên mua và bên bán đều là những nhà đầu tư nước ngoài:
    Trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam chỉ quy định chung chung về việc các bên không được sử dụng DICA để thực hiện giao dịch, mà không có hướng dẫn cụ thể là loại tài khoản phải được sử dụng.
    Theo đó, có thể hiểu rằng bên bán và bên mua có thể tự thoả thuận và thực hiện giao dịch thanh toán giá chuyển nhượng thông qua tài khoản ngân hàng của các bên được mở ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiên cần lưu ý đảm bảo tính chính danh của những tài khoản này và việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng nói trên là hợp pháp theo đúng quy định tại quốc gia sở tại.

2. Lưu ý về dòng tiền liên quan đến việc thanh toán trong giao dịch chuyển nhượng vốn

Sau khi đã xác định được loại tài khoản nào sẽ được sử dụng để thực hiện thanh toán theo quy định pháp luật, vấn đề tiếp theo mà các bên cần quan tâm chính là dòng tiền. Làm sao để bảo đảm rằng sau khi bên mua đi lệnh chuyển tiền để thanh toán giá chuyển nhượng, bên bán sẽ nhận được số tiền này một cách hợp pháp.

Bên cạnh đó một yếu tố khác cũng cần xem xét là việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần sẽ làm phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập đối với các bên liên quan.

Theo quy định pháp luật Việt Nam, nghĩa vụ này phải được kê khai và thực hiện trong một khoản thời gian nhất định – thường là trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng chuyển nhượng hoặc kể từ ngày hoàn tất giao dịch chuyển tiền.

Tuỳ thuộc vào việc DICA có được sử dụng trong quy trình thực hiện thanh toán hay không, dòng tiền liên quan đến việc thanh toán giá chuyển nhượng và số thuế phát sinh từ giao dịch sẽ được thực theo những cách thức khác nhau.

Thông thường, trong trường hợp DICA được sử dụng, Nhà đầu tư mua vốn hoặc mua cổ phần của công ty Việt Nam sẽ chuyển số tiền chuyển nhượng đã bao gồm hoặc không bao gồm số thuế phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng trên vào DICA. Sau đó tiền từ tài khoản này sẽ chuyển vào tài khoản người bán ở nước ngoài hoặc trong nước. Mục đích của việc quy định phương thức thanh toán như trên được hiểu là để cơ quan nhà nước Việt Nam kiểm soát về vấn đề thuế.

Cần lưu ý rằng, do các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này không được quy định một cách chi tiết và rõ ràng trong cùng một văn bản pháp luật mà phải cần tổng hợp từ nhiều điều khoản thuộc Pháp lệnh, Thông tư của ngân hàng nhà nước và Thông tư của Bộ Tài chính. Điều này đã gây ra rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện giao dịch trên thực tế vì nó quá lòng vòng và gây lãng phí cho nhà đầu tư. Do đó, để đảm bảo tính tuân thủ pháp luật khi thực hiện việc thanh toán cũng như hạn chế tất cả các rủi ro có thể xảy ra, các bên nên tham vấn ý kiến chuyên môn trong quá trình soạn thảo và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vốn.

3. Đồng tiền được sử dụng

Như đã đề cập ở trên, giao dịch chuyển nhượng vốn có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về ngoại hối. Cụ thể, một trong những vấn đề quan trọng mà các bên có liên quan cần lưu ý trong trường hợp này là việc xác định đồng tiền định giá, thanh toán giá trị chuyển nhượng vốn – phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng cư trú thuế của các chủ thể tham gia giao dịch:

Các bên tham gia giao dịch đều là cá nhân không cư trú: đồng tiền được phép sử dụng trong trường hợp này là ngoại tệ;

Giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần được thực hiện giữa người cư trú và người không cư trú, giữa người cư trú với nhau phải thực hiện bằng đồng Việt Nam.

Việc vi phạm quy định về đồng tiền được sử dụng trong giao dịch có thể dẫn đến hậu quả là giao dịch không thể thực hiện được trong thực tế hoặc trong trường hợp xấu nhất là việc giao dịch bị tuyên bố vô hiệu.

4. Tham khảo ý kiến của ngân hàng

Trước khi thực hiện thanh toán trong giao dịch chuyển nhượng vốn có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, các bên nên tham khảo ý kiến của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản DICA (trong trường hợp DICA được sử dụng) để làm rõ phương thức thanh toán phù hợp. Tránh trường hợp việc thanh toán Giá Chuyển Nhượng bị gián đoạn do quan điểm của ngân hàng thương mại khác với quan điểm của các bên về phương thức thanh toán. Một số vấn đề cần xác định rõ với ngân hàng thương mại như sau:

  • Tài khoản sử dụng để thanh toán khi thực hiện giao dịch chuyển nhượng vốn;
  • Đồng tiền thanh toán là Việt Nam Đồng hay ngoại tệ khác;
  • Tài liệu cần cung cấp cho ngân hàng thương mại;
  • Yêu cầu khác.

Ngày nay giao dịch chuyển nhượng vốn là nhu cầu mà các công ty đều có lúc cần đến. Việc trang bị kiến thức pháp luật trong mảng chuyển nhượng vốn, đặc biệt khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài giúp các công ty, tổ chức, doanh nghiệp có thể chủ động trong mọi hoạt động của mình, đồng thời cũng tránh được những rủi do liên quan đến giao dịch tương ứng.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.

Share: