LĨNH VỰC ĐẦU TƯ

Đầu tư ra nước ngoài theo hình thức gián tiếp

Đầu tư ra nước ngoài theo hình thức gián tiếp
Đầu tư ra nước ngoài theo hình thức gián tiếp

Đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp ra nước ngoài hiện không còn xa lạ với các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp Việt Nam. Tùy thuộc vào kế hoạch kinh doanh cũng như các điều kiện kinh doanh mà doanh nghiệp đáp ứng được để lựa chọn hình thức trực tiếp hay gián tiếp. Riêng đối với hoạt động đầu tư gián tiếp, những năm gần đây bên cạnh các thị trường, lĩnh vực đầu tư truyền thống thì các nhà đầu tư cũng đang có xu hướng thay đổi và mở rộng về hình thức đầu tư sang các lĩnh vực khác nhau như tài chính và chứng khoán (“Đầu tư ra nước ngoài gián tiếp”). Tuy nhiên, có thể thấy rằng hoạt động đầu tư ra nước ngoài chịu sự tác động của chính sách tiền tệ và ngoại hối của quốc gia, do đó ở những thời điểm khác nhau và tùy thuộc vào những hình thức đầu tư gián tiếp khác nhau được nhà đầu tư lựa chọn, cơ quan nhà nước sẽ đưa ra hoặc điều chỉnh các quy định pháp luật tương ứng về đầu tư, ngoại hối và pháp luật chuyên ngành tương ứng khác để các nhà đầu tư cần lưu ý và áp dụng phù hợp. Vì vậy, bài viết này sẽ mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan về những quy định liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài và chính sách quản lý ngoại hối tương ứng liên quan.

1. Như thế nào là đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

Khác với hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo hướng dẫn của Luật Đầu tư 2020 là đầu tư vốn ra nước ngoài để thành lập hoặc quản lý các tổ chức kinh tế nước ngoài hoặc hợp tác kinh doanh, đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 Nghị định 135/2015/NĐ-CP, được hiểu là hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài.

Trong đó, chứng khoán theo định nghĩa theo pháp luật chứng khoán được hiểu là tài sản phần loại như sau:

  • Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
  • Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký;
  • Chứng khoán phái sinh;
  • Các loại chứng khoán khác do Chính Phủ quy định.

Đồng thời, Giấy tờ có giá được hiểu theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Thông tư số 01/2012/TT-NHNN là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác.

2. Những hình thức đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

Hiện nay, mặc dù vẫn chưa có văn bản hướng dẫn mới nhất áp dụng cho Luật Đầu tư 2020 liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo hình thức gián tiếp. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan nhà nước vẫn hướng dẫn áp dụng tương tự theo quy định tại Nghị định số 135/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 10/2016/TT-NHNN của Ngân Hàng Nhà Nước, hướng dẫn Luật Đầu tư 2014. Cụ thể, những hình thức đầu tư ra nước ngoài ngoài sau đây được xem là hình thức đầu tư gián tiếp:

  • Tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài;
  • Tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài;
  • Ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

2.1 Đầu tư ra nước ngoài gián tiếp theo hình thức thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài

  • Đây là hình thức đầu tư gián tiếp ra nước ngoài duy nhất được áp dụng là cho nhà đầu tư cá nhân có quốc tịch Việt Nam.
  • Chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nươc ngoài phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
  • Tổ chức phát hành cổ phiếu thưởng là tổ chức thành lập tại nước ngoài và phải có hiện diện thương mại ở Việt Nam như công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện,…
  • Nhà đầu tư cá nhân phải là người lao động có quốc tịch Việt Nam.
  • Việc thực hiện chương trình cổ phiếu thưởng và các thủ tục đăng ký liên quan phải được thực hiện thông qua hiện diện thương mại tại Việt Nam
  • Trước khi thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ởnước ngoài, hiện hiện thương mại của tổ chức phát hành cổ phiếu ở nước ngoài phải thưc hiện thủ tục đăng ký thực hiện chương trình này và phải được sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
  • Ngoại tệ, các khoản thu nhập, cổ tức mà người lao động thu được từ chương trình thưởng cổ phiếu này phải được chuyển về cho người Việt Nam thông qua một tài khoản sử dụng riêng cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài và được mở bởi hiện diện thương mại của tổ chức ngoài tại Việt Nam.

2.2 Hình thức tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

a. Các tổ chức được phép tự doanh

Hình thức này chỉ áp dụng có điều kiện đối với một số công ty và tổ chức có ngành nghề hoạt động theo quy định, hay còn gọi là các tổ chức được phép tự doanh:

  • Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.
  • Quỹ đầu tư chứng khoán thông qua công ty quản lý quỹ (sau đây gọi là quỹ đầu tư chứng khoán), công ty đầu tư chứng khoán.
  • Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.
  • Ngân hàng thương mại.
  • Công ty tài chính tổng hợp.
  • Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

b. Các điều kiện để đầu tư theo hình thức tự doanh:

  • Các tổ chức được phép tự doanh phải thực hiện đăng ký tự doanh với Ngân hàng nhà nước và đươc Ngân hàng nhà nước xác nhận và chấp thuận hạn mức tự doanh bằng văn bản.
  • Ngoài ra, tương ứng với mỗi đối tượng trong nhóm các tổ chức được phép tự doanh thì cần phải đáp ứng những điều kiện riêng biệt và chịu sự quản lý của các bộ và cơ quan chuyển ngành khác nhau như:
    • Nhóm các đối tượng bao gồm công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, phải được Bộ tài chính cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Đồng thời, nhóm đối tượng này cũng cần đáp ứng các điều kiện về có lãi trong thời hạn 03 năm liên tục, được thể hiện trong báo cáo tài chính kiểm toán của tổ chức đó, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với nhà nước và đảm bảo các yêu cầu về quy trình, cơ chế kiểm soát nội bộ về quản lý rủi ro, vốn liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.
    • Nhóm các đối tượng bao gồm Ngân hàng thương mại và Công ty tài chính tổng hợp… phải được cấp giấy chưng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài. Về điều kiện cần đáp ứng, ngoài các điều kiện tương tự với nhóm đầu tiên, các tổ chức này cũng cần đáp ứng các điêu kiện như được phép hoạt động ngoại hối trên thị trường quốc tế theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
    • Đối với nhóm đối tượng gồm Quỹ đầu tư chứng khoán và Công ty đầu tư chứng khoán phải được Bộ Tài chính chấp thuận cho phép đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, nhóm đối tượng này cũng cần đáp ứng những điều kiện như trong Điều lệ cho phép đầu tư gián tiếp ra nước ngoài; có quy trình nội bộ, cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, nhận dạng và quản trị rủi ro liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài; đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định của Bộ Tài chính, ….

2.3 Uỷ thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

Ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được hiểu việc tổ chức kinh tế (‘“Tổ chức ủy thác”) giao vốn bằng ngoại tệ cho tổ chức được phép nhận ủy thác đầu tư ở trong nước (“Tổ chức nhận ủy thác”) thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua hợp đồng ủy thác đầu tư (sau đây gọi chung là “Ủy thác”)

a. Tổ chức ủy thác:

  • Với vai trò là nhà đầu tư, các tổ chức kinh tế chỉ được đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua hình thức ủy thác đầu tư cho các tổ chức được phép nhận ủy thác đầu tư. Tuy nhiên trong trường hợp, các tổ chức này đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài còn hiệu lực liên quan đến hoạt động tự doanh thì không được phép thực hiện đầu tư ra nước ngoài theo hình thức ủy thác.
  • Về điều kiện cần đáp ứng, các tổ chức cũng cần lưu ý các quy định về (i) báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập thể hiện công ty có lãi trong 3 năm liên tục trước khi đăng ký ủy thác, (ii) tuân thủ nghĩa vụ tài chính, thuế với Nhà nước, quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước (iii) Nguồn ngoại tệ đầu tư ra nước ngoài là ngoại tệ tự có, (iv) Có phương án đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được cấp có thẩm quyền của tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật chấp thuận.

b. Tổ chức nhận ủy thác:

  • Các đối tượng được phép nhận ủy thác sẽ bao gồm: (i) Công ty quản lý quỹ và (ii) Ngân hàng thương mại.
  • Về điều kiện: 02 đối tượng này cần phải được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động ủy thác theo đầu tư gián tiếp ra nước ngoài bởi cơ quan quản lý chuyên ngành tương ứng và đã đăng ký hạn mức được nhận thác bằng văn bản xác nhận của Ngân hàng nhà nước.
  • Ngoài ra, tổ chức nhận ủy thác phải đáp ứng các điều kiện về hoạt động có lãi trong kinh doanh được thể hiện trên báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập, tuân thủ nghĩa vụ tài chính và thuế; tuân thủ các quy định về kiểm soát nội bộ, rủi ro và vốn theo quy định pháp luật Việt Nam.
  • Các thủ tục khác cần lưu ý thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua hình thức ủy thác đầu tư cho các tổ chức được phép nhận ủy thác đầu tư.

2.4 Những lưu ý khác

Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài cần lưu ý một số nội dung như sau:

  • Đối với doanh nghiệp tại Việt Nam có vốn đầu tư nươc ngoài theo quy định tại Khoản 1, Điều 23, Luật Đầu tư 2014 (doanh nghiêp FDI) không được phép thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo cả ba hình thức nêu trên.
  • Nhà đầu tư Việt Nam cần tuân thủ việc mở tài khoản tương ứng để thực hiện hoạt động ra nước ngoài cho cả ba hình thức nêu trên. Trên thực tế, nhà đầu tư nên tham vấn ý kiến của Ngân hàng thương mại và Ngân hàng nhà nước để đảm bảo quá trình lưu chuyển ngoại hối từ Việt Nam ra nước ngoài thông qua tài khoản này và ngược lại tuân thủ các quy định của pháp luật ngoại hối và tránh bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
  • Tuân thủ nghĩa vụ chuyển vốn đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, chuyển vốn, lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp từ hoạt động đầu tư gián tiếp ở nước ngoài về Việt Nam theo quy định.

Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được quy định và điều chỉnh song song bởi pháp luật đầu tư, pháp luật ngoại hối và pháp luật chuyên nganh đối với từng nhóm đối tượng nhà đầu tư cụ thể và hoạt động đầu tư ra nước ngoài được phép tương ứng. Vì vậy, các nhà đầu tư, bao gồm cả cá nhân và tổ chức liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài cần lưu ý để có kế hoạch đầu tư phù hợp với quy định và áp dụng phù hợp với các quy định pháp luật được điều chỉnh tại từng thời điểm khác nhau.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.