Trong hoạt động thương mại, sự thoả thuận giữa các bên thông thường được ghi nhận trong hợp đồng. Các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng theo hợp đồng đó. Tuy nhiên, việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vẫn có thể xảy ra, dù cố ý hay vô ý. Để bảo vệ quyền lợi của mình, bên bị vi phạm nên áp dụng các chế tài thương mại.

Các chế tài thương mại được quy định tại Điều 292 Luật Thương mại 2005 bao gồm:

  • Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
  • Phạt vi phạm.
  • Buộc bồi thường thiệt hại.
  • Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
  • Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
  • Huỷ bỏ hợp đồng.
  • Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số chế tài phổ biến trong hoạt động thương mại như sau:

1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng

Đây là chế tài có chức năng đảm bảo hợp đồng được thực hiện như thoả thuận, bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh; được áp dụng đối với bất kỳ hành vi vi phạm hợp đồng nào.

Cách thức áp dụng:

Yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng.

  • Trường hợp bên vi phạm không thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền áp dụng các biện pháp khác như: mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế; tự sửa chữa khuyết tật hàng hoá;… Bên vi phạm phải chi trả khoản chênh lệch và những chi phí phát sinh.
  • Chế tài này không được áp dụng đồng thời với các chế tài khác ngoại trừ việc phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Nếu bên vi phạm không thực hiện, bên bị vi phạm có quyền tiếp tục áp dụng các chế tài khác.

2. Phạt vi phạm

Là chế tài có chức năng tăng cường ý thức tuân thủ hợp đồng của các bên. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng.

Điều kiện để áp dụng chế tài này là phải có tồn tại thoả thuận về việc phạt vi phạm giữa các bên, đồng thời đã xảy ra hành vi vi phạm mà các bên thoả thuận là điều kiện để áp dụng chế tài phạt vi phạm.

Mức phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ các lĩnh vực sau:

  • Mức phạt vi phạm tối đa trong lĩnh vực xây dựng là 12% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm;
  • Mức phạt vi phạm tối đa trong lĩnh vực giám định là không vượt quá 10 lần thù lao dịch vụ giám định.

3. Bồi thường thiệt hại

Đây là chế tài có chức năng bù đắp tổn thất vật chất cho bên bị vi phạm. Bên vi phạm có trách nhiệm bồi thường giá trị tổn thất thực tế và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ 3 yếu tố:

  • Có hành vi vi phạm hợp đồng;
  • Có thiệt hại thực tế;
  • Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Lưu ý: Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.

Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, chế tài bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng đồng thời với các chế tài khác.

Bài viết được căn cứ theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được ghi nhận như trên và có thể không còn phù hợp tại thời điểm người đọc tiếp cận bài viết này do pháp luật áp dụng đã có sự thay đổi và trường hợp cụ thể mà người đọc muốn áp dụng. Do đó bài viết chỉ có giá trị tham khảo.

Share: